Little Saigon

Nếu không hề có cuộc chia ly

NGUYỄN HOÀNG ÁNH

Cuộc chiến giữa hai miền Việt Nam kéo dài hơn 20 năm đã tốn rất nhiều giấy mực của cả hai phe. Những đau thương trong cả thời chiến và hậu chiến sẽ còn mãi ghi dấu lịch sử. Nhưng có những vết thương không hề đổ máu mà nỗi đau và ảnh hưởng của nó cũng to lớn không kém bất kỳ tổn thất nào từ chiến tranh…

Bố mẹ tôi

Tôi xuất thân từ một gia đình được coi là “lý lịch không tốt” vì ông nội bị quy là địa chủ do “tội” có bốn mẫu ruộng. Bố tôi có học bổng vào trường Tây; ông ngoại tôi là công chức thời Pháp; năm 1954 hai người chị của mẹ tôi lại theo chồng vào Nam. Vì vậy, dù trình độ chuyên môn tốt nhưng việc thăng tiến luôn rất khó khăn đối với bố mẹ tôi. Thậm chí đến khi thi đại học, tôi thừa điểm đi nước ngoài nhưng cũng suýt bị hụt vì bố mẹ không phải đảng viên! Suốt thời thơ ấu, thỉnh thoảng đang ngủ tỉnh dậy tôi nghe bố mẹ tôi than thở về việc bị chèn ép, thậm chí những quyền lợi bình thường như tem phiếu cũng bị cắt xén, mà cũng chỉ dám nói trong đêm…

Những người có “vết” như bố mẹ tôi có thể bị phê phán vì những thứ rất vô lý, chẳng hạn “tội” lúc nào cũng “cám ơn” với “xin lỗi”, do đó là “tàn dư của văn hóa tiểu tư sản”! Mỗi lần xem cuốn album bố mẹ tôi giấu kín trong tủ, nhìn những tấm ảnh hai người ăn mặc đẹp, rạng rỡ; rồi nhìn hai người bây giờ với dáng vẻ gầy ốm, đầy lo âu, mọi ước mơ đều gửi gắm vào con cái, dù còn nhỏ tôi vẫn thấy rất xót xa. Sau này tôi mới biết, bố tôi đã làm xong hồ sơ đi Pháp học đại học nhưng sự kiện Điện Biên Phủ đã làm thay đổi tất cả. Cuộc đời của bố mẹ tôi và biết bao người cùng thế hệ, những thanh niên, thiếu nữ xinh đẹp, trẻ trung, nhiệt huyết, tài năng… đã bị hủy hoại một cách oan uổng như thế.

Chiến tranh cuối cùng chấm dứt. Bố mẹ tôi được gặp lại những người thân ở bên kia giới tuyến, kể cả người ở nước ngoài trở về. Bố bắt đầu dám kể lại những kỷ niệm thời đi học ở Albert Sarraut; mẹ bắt đầu hát nhạc tiền chiến. Hội cựu học sinh trường Albert Sarraut và trường Trưng Vương mở lại, hai cụ hào hứng tham gia. Tuy nhiên, thỉnh thoảng tôi thấy bố đang kể chuyện thời đi học bỗng chững lại rồi chuyển sang đề tài khác…

Bố của tác giả (ảnh tác giả gửi)

Nếu không hề có cuộc chia ly…

Một ngày đầu những năm 2010, bỗng nhiên bố tôi gọi điện bảo tất cả chúng tôi về nhà để gặp khách. Đến nơi, tôi thấy một phụ nữ trạc tuổi mình, là Việt kiều. Bố tôi trông rất xúc động còn mẹ tôi khá lúng túng. Hỏi ra mới biết hóa ra chị là con của người phụ nữ vốn là mối tình đầu của bố tôi, một chuyện tình mà bố chưa từng kể với ai. Bà ấy trước kia là cô gái xinh đẹp, học hành tử tế, con của một gia đình khá giả trong làng. Quen biết nhau từ nhỏ nhưng mãi đến sau Hiệp định Geneve, khi cả hai cùng tham gia đội văn nghệ với anh của cô thì hai người mới bắt đầu cảm mến nhau. Gia giáo hai nhà đều rất nghiêm nên cả hai không dám thố lộ với ai. Đọc lại những dòng tâm sự của cụ về mối tình thơ mộng ấy, tôi vẫn còn cảm thấy thổn thức:

Từ hôm ấy trở đi, chúng tôi thường hẹn nhau cùng đạp xe đi chơi trên các phố phường Hà Nội. Có thể nói hầu như khắp đường phố Hà Nội cũ đã in dấu bánh xe đạp của chúng tôi. Thường là mỗi đứa mỗi xe, đi song song, thỉnh thoảng mới có buổi tôi dám đèo nàng. Đói thì dừng xe, mua bánh mì với pa-tê hay trứng ốp-la ăn, khát thì mua nước uống, đạp xe rong ruổi không biết mỏi. Hình như chỉ cần có nhau bên cạnh là đủ hạnh phúc, trò chuyện chẳng mấy, những câu chuyện mà chắc có kẻ thứ ba nào vô tình nghe được, sẽ cảm thấy rất dớ dẩn.

“Chúng tôi đã nhiều lần đạp xe quanh Hồ Gươm ngắm phong cảnh, đôi lần dắt xe đi bộ, hít không khí trong lành, dừng bước dưới chân Tháp Bút, ngước nhìn Đài Nghiên, dựng xe khóa lại rồi dắt tay nhau qua cầu Thê Húc vào đền Ngọc Sơn, lang thang ra Trấn Ba Đình ngắm cảnh hồ sóng nước lăn tăn. Cũng có lần dừng chân mua lạc rang của ông già người Hoa đứng bán bên tháp Hòa Phong. Lạc rang của ông trăm hạt như một, to đều, đựng trong cái hòm gỗ đeo trên vai, lạc bán được đếm từng hạt, đựng trong phễu bằng giấy gấp. Có hôm hai đứa đã hẹn nhau 6 giờ sáng hôm sau đi chơi, bỗng gần sáng trời đột nhiên đổ mưa như trút nước. Sắp đến giờ hẹn, tôi đi ra ngóng trời rồi đi vào, ruột như có lửa đốt, cuối cùng quyết định cứ mặc áo đội mưa dắt xe đi. Đến nơi, tôi nấp ở tò vò cổng nhà đối diện nhìn sang; vài phút sau thấy nàng mở cổng thò đầu ra, gật đầu với tôi ra ý hẹn chờ. Dăm phút sau nàng dắt xe ra, mình cũng mặc áo mưa. Thế là hai đứa lên xe cùng đạp đi, bất chấp trời mưa to”…

Cả hai không hề biết dông tố đang đến gần. Lòng người bất an trong lựa chọn di cư vào Nam hay ở lại. Điều 14 của Hiệp định cho phép người dân mỗi miền di cư đến bên kia trong vòng 300 ngày sau thỏa thuận đình chiến, tức là đến ngày 19-5-1955. Nhà bố tôi không có ai làm cho Pháp hay đi lính nên không nghĩ gì đến việc ra đi. Một hôm, bố tôi đột ngột được tin cô gái ấy đã theo vợ chồng người anh trai vào Nam. Lúc đầu ông không tin vì mới gặp nhau hai hôm trước không nghe thấy cô nói gì. Nhưng rồi không thể chối bỏ được sự thật phũ phàng: cô đã ra đi, không một lời nhắn nhủ hay từ biệt. Quá đau lòng, ông cho rằng cô đã phản bội tình yêu, nên cố quên hẳn, không bao giờ kể với ai. Rồi ông gặp mẹ tôi và lập gia đình, bận bịu với con cái, mưu sinh, chuyện cũ dần chìm vào quên lãng.

Bố của tác giả thời đi học trong một trường Pháp (ảnh tác giả gửi)

Dường như chỉ mới hôm qua

Thế rồi đến năm 1975. Các cuộc kết nối được thực hiện và dần dần nhiều Việt kiều trở về thăm quê cũ. Ngày nọ, có một người cháu trong nhà bên ấy mời ông qua chơi. Gặp con gái của cô ấy, ông mới biết rằng hơn 50 năm qua, cô gái ấy (giờ ta phải gọi là bà) không hề quên ông và rất áy náy vì buộc phải ra đi. Gia đình bà có hai người anh; một người sau thời gian ở chiến khu đã mất lòng tin vào Việt Minh nên muốn bỏ đi nhưng không thể công khai vì ngại người kia ngăn cản. Do bà sống với vợ chồng người anh này nên buộc phải đi theo, chỉ kịp để lại vài dòng nhờ người chị chuyển cho bố tôi, xin lỗi vì phải đi gấp và hẹn hai năm sau hiệp thương thống nhất đất nước sẽ gặp lại. Đến năm 1956, thấy không có hy vọng, bà lại gửi một thư xin lỗi nữa nhưng người chị không biết sao không chuyển lại. Chờ mãi không thấy hồi âm, bà đành kết hôn với một giáo viên. Tuy nhiên, trong trái tim bà vẫn luôn có một góc dành cho mối tình đầu… (Bà là em gái của một văn sĩ rất nổi tiếng ở miền Nam và ông hiện vẫn còn sống tại Nam California mà vì lý do riêng tư nên tên của ông không được nêu trong bài viết này).

Đến ngày 30-4-1975, gia đình bà hòa vào đoàn người di tản. Những năm đầu vất vả mưu sinh nuôi con còn nhỏ khiến bà chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện xưa. Hơn nữa, bà cũng phải giữ gìn ý tứ với chồng nên chỉ biết tin bố tôi qua họ hàng về chơi. Cho đến đầu năm 2010, khi chồng bà qua đời, cô con gái lớn của bà – biết mẹ vẫn nhớ chuyện cũ – đã ngỏ ý tìm cách liên lạc và cô con gái đã về Việt Nam tìm gặp bố tôi.

Minh họa: Al Soot/Unsplash

Sau buổi gặp ấy vài tháng thì bà cũng về lại quê nhà. Hơn nửa thế kỷ mới gặp lại nhau, hai người đều bồi hồi. Mẹ tôi được chúng tôi khuyên tránh đi để hai người nói chuyện. Bố tôi vốn nổi tiếng đẹp trai ở trường Albert Sarraut ngày xưa, giờ vẫn đẹp lão; còn bà vẫn giữ được nét xuân sắc thuở nào. Hai cụ ngồi bên nhau trước một bàn đầy thức ăn mà không hề động đũa, chỉ nhìn nhau không dứt, rồi tay nắm tay cùng bước ra vườn mà tưởng như đang mơ, các cháu rồng rắn theo sau. Đến chỗ trước cửa dẫn ra vườn, bà dừng lại, và bảo bố tôi: “Anh còn nhớ không, đây là chỗ em nói lời từ biệt với anh sau lần cuối mình đi chơi về. Ai ngờ lại biệt tăm nhau đến giờ”…

Nhìn hai cụ tôi rất cảm động, thắc mắc không biết nếu không có những biến cố nghiêng trời lệch đất của lịch sử thì gia đình tôi sẽ thế nào. Có một sự tình cờ thú vị. Hai ông bà gặp nhau khi bố tôi mới xong Tú tài. Bố tôi vốn định học Y, nhưng năm 1955, ông nội tôi nghe tin Cải cách Ruộng đất từ Thanh Hóa truyền ra, biết không nuôi được con ăn học nên bảo bố tôi chuyển qua học Sư phạm cho có học bổng, rồi bố tôi gặp mẹ tôi ở đó. Còn bà vào Nam cũng chọn học Sư phạm và kết hôn với một giáo viên. Hai bà đều dạy ngoại ngữ còn hai ông đều dạy Tự nhiên, chỉ khác là bố tôi dạy Lý còn chồng bà dạy Toán. Con gái lớn của bà cũng là giảng viên đại học như tôi… Nhìn chị, tôi cứ nghĩ nếu bố tôi và mẹ chị thành đôi thì tôi sẽ là chị hay chị sẽ là tôi? Giống như Trang Chu hóa bướm hay bướm là Trang Chu?

Tận đáy lòng, tôi rất biết ơn chị. Chị phải rất thương và thông cảm với mẹ thì mới bỏ công đi lại, kết nối để thỏa mãn chút ước vọng cuối đời của bà và cũng giúp bố tôi giải tỏa nỗi lòng. Từ đó, hai cụ có niềm vui là gửi sách, gửi thuốc, email cho nhau. Bà rất tế nhị nên lần nào gửi quà cũng gửi cả cho mẹ tôi. Cả ba người đều đã gần 80 nên không còn hiềm khích gì, như bài thơ của bố tôi gửi cho bà:

Tình xưa nghĩa cũ là đây

Biết bao ngày tháng đã dày nhớ mong.

Tình đã mặn, nghĩa càng nồng

Tình nay là bạn, những mong tháng ngày…

Nghĩ lại, tôi vẫn thấy bố tôi và bà vẫn còn may mắn, tuy lạc mất nhau ngần ấy năm nhưng ai cũng có cuộc đời riêng tạm ổn và còn cơ hội gặp lại nhau. Giữa dòng thác lũ lịch sử nghiêng trời lở đất ấy, phận người thật mỏng manh nhưng tấm lòng con người vẫn vững bền. Có bao nhiêu người đi qua thương nhớ mà quên được nhau? (“Đã đi qua thương nhớ” – thơ Nguyễn Phong Việt).