Little Saigon

Chút ký ức sau 30.4.1975 (kỳ 1)

416

LÊ NGUYỄN

CHUYỆN Ở LONG THÀNH

Nói về đời tù thì phải bắt đầu từ ngày 15.6.1975, khi xách gói ra trường Trưng Vương, Sài Gòn, trình diện cải tạo theo yêu cầu “mang theo tiền bạc, đồ dùng đủ xài trong một tháng”. Trại cải tạo Long Thành nguyên là Làng cô nhi Long Thành dưới quyền điều hành của một người tên Tư Sự, sau 30.4.1975, nghe đâu từng là “cơ sở cách mạng”. Ngôi làng cô nhi này một thời là trung tâm từ thiện nức tiếng. Chủ nhật hàng tuần, người thiện tâm lên thăm viếng nườm nượp, hỗ trợ tiền bạc, thực phẩm, thuốc men. Từ tháng 6.1975, làng cô nhi biến thành Trường học tập cải tạo rồi Trại cải tạo Long Thành. Trái với các trung tâm cải tạo tại các tỉnh do địa phương quản lý, Trại Long Thành đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Cục trại giam Bộ Nội vụ nên được đặt tên “15 NV”.

Trại chứa khoảng 3.000 người có dính dáng chế độ VNCH, chia thành bốn khối:

– Khối 1: viên chức các thành phần, gồm viên chức hành chánh từ cấp Phó Ty, Phó Quận đến Phó Tổng thống, dân biểu, nghị sĩ, thẩm phán (Chánh án, Biện lý, Phó Biện lý, Dự thẩm)
– Khối 2: đảng viên các đảng phái: Việt Nam Quốc Dân đảng, đảng Đại Việt, đảng Dân Chủ…, từ cấp Phó Bí thư Quận-Huyện trở lên
– Khối 3: Nhân viên Phủ Đặc ủy Trung Ương Tình báo từ trung cấp trở lên
– Khối 4: Sĩ quan cảnh sát từ Thiếu tá trở lên

Một lớp “học tập cải tạo” tại Tây Ninh, 1976. Ảnh: Marc Riboud

Bốn khối chia nhau khoảng 10-11 dãy nhà. Mỗi nhà mang số thứ tự từ một trở đi, có bốn gian rộng, chứa khoảng 300 người. Khối một gồm thành phần tinh túy của chế độ vừa sụp đổ. Có người từng là Chủ tịch Tối cao Pháp viện như cụ Trần Minh Tiết; Chủ tịch Hạ viện như cụ Nguyễn Bá Lương; Bộ trưởng Tài chánh rồi Cố vấn Tài chánh Phủ Tổng thống như cụ Lưu Văn Tính; Trưởng phái đoàn VNCH trong Hội đàm Ba Lê như ông Nguyễn Xuân Phong; kiến trúc sư lừng danh như ông Ngô Viết Thụ…

Khối hai có hai nhân vật nổi bật là cụ Vũ Hồng Khanh, nguyên lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng, thành viên chính phủ Liên hiệp kháng chiến của Hồ Chí Minh và từng cùng ông Hồ ký với đại diện chính quyền Pháp Sainteny bản Hiệp định sơ bộ Hạ Long 1946. Năm 1975, cụ Khanh đã 77 tuổi, có lẽ là người tù lớn tuổi nhất lúc bấy giờ. Người thứ hai là luật sư Nguyễn Lâm Sanh, cương vị cuối cùng trong chế độ VNCH là Phó Chủ tịch Liên minh Á châu chống Cộng (chủ tịch là ông Phan Huy Quát, nguyên Thủ tướng Chính phủ). Nghe kể ông Sanh từng mở văn phòng luật sư với Nguyễn Hữu Thọ, trước khi ông Thọ bỏ ra khu. Khoảng tháng 9-10.1975, có một đoàn căn cước thuộc Bộ Nội vụ (sau là Bộ Công An) lên trại Long Thành làm hồ sơ căn cước từng người (năm 1976, ông Thọ là Phó Chủ tịch nước). Nghe đâu, một người con trai ông Thọ có tháp tùng đoàn công tác để thăm cụ Lâm Sanh.

Những năm 1975-1978, tại trại Long Thành, có hai đợt tập trung ra Bắc mà anh em tù gọi là đợt “bao bố 1” và “bao bố 2”. Cách gọi này ra đời trong hoàn cảnh sau: một sáng nọ, gần 3.000 trại viên được đưa lên hội trường, nơi các cán bộ từ Sài Gòn thường lên thuyết giảng (có lần “thuyết trình viên” là nhà biên khảo văn học Hoài Thanh, đồng tác giả quyển Thi Nhân Việt Nam). Sáng hôm đó không có bài thuyết giảng nào mà chỉ để thông báo, mà khi nghe qua, cả luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng từng người. Lệnh rằng ai có tên trong danh sách thì đi nhận một chiếc bao bố, dồn hết đồ đạc riêng vào để trại chở đi trước. Đó là một bất ngờ không ai lường trước. Sự nhớn nhác lo sợ bao trùm cả trại. Cuối cùng cả ngàn bao bố đựng vật dụng tùy thân cùng chủ nhân của chúng được đưa về trại 16 NV tại Thủ Đức trước khi xuống tàu ra Bắc. Chuyến “bao bố 2” xảy ra khá lâu sau đó. Những người còn lại khoảng gần 200.

Cuối năm 1978, đầu 1979, hơn 40 trong số gần 200 người được đưa từ Long Thành lên Xuyên Mộc để mở một trại mới gồm ba khu A, B và C. Năm 1979, khi vừa hoàn thành những bước đầu, trại Xuyên Mộc đã đón tiếp các loại “khách”: một là tù hình sự; hai là quân nhân chế độ mới bị án tù; ba là tù “hiện hành” (chỉ những người chống phá chính quyền mới, bị bắt sau 3.4.1975); bốn là một số văn nghệ sĩ miền Nam bị bắt khoảng năm 1976; năm là sĩ quan cấp úy VNCH; và sáu là công chức hành chánh từ Long Thành chuyển lên.

NGUYỄN MẠNH CÔN VÀ DUYÊN ANH

Khoảng tháng 10.1979, 150 tù cải tạo còn lại tại Long Thành được chuyển lên khu B, trại Xuyên Mộc. Vừa bước xuống chiếc xe nhuộm màu đất đỏ Bà Rịa, những người đã sống nhiều năm ở thị thành bỗng nghe vang rền “bài ca” vượn hú chim kêu. Có một loài chim hót vang đều hai tiếng mà người lạc quan nghe ra là “tết về, tết về”, còn người bi quan thì nghe “hết về, hết về”.

Trong chuyến này, tù Long Thành có ít nhất ba cụ được nhiều người biết: cụ Nguyễn Bá Lương, cựu Chủ tịch Hạ viện VNCH; cụ Nguyễn Văn Tho, cựu Trưởng khối Dân tộc Thượng Nghị Viện; và cụ Cao Xuân Thiệu, viên chức cao cấp lâu năm, cháu trực hệ của đại thần Cao Xuân Dục, Thượng thư bộ Học, Phụ chánh đại thần triều Duy Tân.

Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn (1920-1979). (Ảnh riêng của Viên Linh)

Trong số những người đến trước chúng tôi, có ít nhất bốn người thuộc thành phần văn nghệ sĩ: nhà văn Duyên Anh, đội trưởng đội rau xanh số 17, nhà trưởng nhà 2 (tạm gọi theo thứ tự từ nhà 1, tính từ hàng rào trở vào); họa sĩ Đằng Giao, đội trưởng đội rau xanh số 19; nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, tác giả những tác phẩm nổi tiếng: Kỳ Hoa Tử, Truyện Ba Người Lính Nhảy Dù Lâm Nạn, Đem Tâm Tình Viết Lịch sử, Hòa Bình…Nghĩ Gì…Làm Gì…; và học giả Hồ Hữu Tường.

Vừa nhập trại Xuyên Mộc vào buổi chiều thì buổi tối chúng tôi nhận được tin “nóng” đầu tiên về Nguyễn Mạnh Côn. Trước đó mấy ngày, trong một buổi sinh hoạt có cán bộ trại tham dự, ông Côn đứng lên dõng dạc tuyên bố thời hạn ba năm cải tạo đã hết, ông cần được đối xử như một công dân. Các tù cải tạo trẻ thuộc thành phần hiện hành vốn ngưỡng mộ nhà văn cũng lên tiếng ủng hộ.

Ông Côn bị kết tội xách động và bị biệt giam. Khoảng một tuần sau, có tin gia đình ông lên thăm, bị từ chối cho gặp. Theo qui chế trại giam, người bị kỷ luật biệt giam không được hưởng quyền lợi như tù bình thường, chẳng hạn không được ăn đúng khẩu phần, không được thăm nuôi… Không nhớ bao lâu sau nữa, ông Côn được thả về “nhà” cũ (nhà 2). Lúc đó sức khỏe ông đã suy kiệt. Buồn hơn nữa là vào một buổi trưa đi lao động về, nhiều anh em được tin sáng hôm đó, mấy cậu trật tự (là quân phạm của chế độ mới) giải nhà văn lên cán bộ trực trại (một người tên Hưng, một người tên Độ), sau khi bắt quả tang ông Côn lục túi đồ một đồng phạm để lấy gói mì tôm. Nhiều bạn tù không nghĩ ông tệ đến thế. Trong đời sống trại giam, việc hai ba người góp gạo là chuyện phổ biến. Do đó, việc ông Côn lấy gói mì của một người ăn chung và bị bọn trật tự muốn lập công làm nhục là điều có thể xảy ra.

Nhà văn Duyên Anh (1935-1997). (Hình: Viên Linh cung cấp)

Bấy giờ, nhà 1, nơi tôi ở, với nhà 2, nơi ông Côn ở (nhà trưởng là Duyên Anh), cách nhau chỉ khoảng 8 mét, ngăn đôi bằng hàng rào kẽm gai. Chiều chiều, anh em mỗi nhà tập trung ngoài sân bên hông nhà, ngồi thành hàng để cán bộ trực trại điểm số và lùa vào trong khóa cửa lại. Một buổi chiều, tôi ngồi chờ điểm số, ngó sang sân nhà 2 qua hàng rào kẽm gai và thấy ông Côn ngồi ở đầu hàng. Ông gầy rộc như một bộ xương, thần sắc không còn chút tinh anh nào. Tôi linh cảm một kết thúc đang đến rất gần với ông. Thật vậy, chỉ mấy ngày sau, ông qua đời.

Sau này, nghe đâu, sự biệt giam và cái chết của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn là một trong nhiều lý do khiến nhà văn Duyên Anh phải hứng chịu sự hành xử thô bạo ở nước ngoài. Người ta quy một phần trách nhiệm cho anh với tư cách là nhà trưởng nơi ông Côn ở. Đây là điều mà chỉ những người sống ở nhà 2, gần gũi, thân tình với cả hai người mới có thể biết được nội tình. Riêng tôi, người đang kể câu chuyện này, còn nhớ rõ nét về anh “nhà trưởng” Duyên Anh với cảnh mỗi chiều chạy ra chạy vào thét lác anh em sớm tập họp điểm số. Phải chăng sự “năng nổ” và có phần nóng tính này là nguyên nhân gây ra những tai tiếng về anh?

Khác với Duyên Anh, họa sĩ Đằng Giao (tên thật Trần Duy Cát, con rể nhà văn Chu Tử) – đội trưởng Đội rau xanh số 19 – là người điềm đạm, ít nói hơn, nên sau này không ai gán cho tai tiếng gì. Tôi có một kỷ niệm nhỏ về anh: ngày đó, “nhà” chúng tôi đang ở cần tu sửa gấp nên mọi người bị phân tán nhiều nơi, tình cờ, tôi “lạc” vào “nhà” Đằng Giao. Anh và tôi được một lần nằm cạnh nhau, tâm sự đủ thứ gần suốt một đêm dài…

NGUYỄN BÁ LƯƠNG

Trước khi đắc cử dân biểu Quốc Hội, cụ Lương là Trưởng Ty Bưu Điện Phước Long. Vào nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng hòa, mọi hoạt động đều hướng về mục tiêu dân chủ hóa. Dù nền dân chủ còn non trẻ nhưng các luật gia giỏi đã xây dựng được một tập quán dân chủ theo cách tổ chức phương Tây. Để hoạt động hữu hiệu, tránh cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, Hành pháp ráo riết vận động hành lang để lôi kéo nhiều dân biểu, nghị sĩ nghiêng về phía thân chính quyền, hầu đạt được túc số cao trong các cuộc biểu quyết những vấn đề quan trọng.

Hai nhân vật được Phủ Tổng thống sử dụng cho công tác quan trọng này là: dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, chủ nhân nhà bào chế OPV; và ông Nguyễn Văn Ngân, được báo chí gọi tắt là Phụ tá Ngân. Họ giữ cương vị Phụ tá đặc biệt Phủ Tổng thống, xếp ngang Bộ trưởng về mặt hệ cấp (một phụ tá nữa là ông Huỳnh Văn Trọng, phụ tá về chính trị, dính vào vụ án “bí mật đi đêm” với phía miền Bắc và Mặt trận GPMNVN). Một trong những thành công của Hành pháp VNCH bấy giờ là đưa được một công chức tương đối lớn tuổi (so với đa số dân biểu khác) lên làm chủ tịch Hạ viện. Đó là cụ Nguyễn Bá Lương.

Có đọc các công báo Quốc hội VNCH về những buổi thảo luận tại diễn đàn Quốc hội, được ghi đầy đủ bằng tốc ký, mới thấy được sự lúng túng của một ông công chức làm Chủ tịch Hạ viện, hiền lành và không có tính chất tối thiểu của một chính khách. Tội nghiệp nhất là những phiên họp quan trọng, khi không khí trên diễn đàn căng thẳng, rối rắm, và mặc cụ Chủ tịch liên tục gõ búa, các dân biểu trẻ vẫn nhao nhao đăng đàn chỉ trích, thậm chí nặng lời với cụ.

Sang nhiệm kỳ hai Quốc hội VNCH, ghế Chủ tịch Hạ viện về tay ông Nguyễn Bá Cẩn, tốt nghiệp khóa đầu tiên trường Quốc Gia Hành Chánh (đầu thập niên 1950), từng làm Quận trưởng thời Ngô Đình Diệm, sau đó là Phó Tỉnh trưởng tại nhiều tỉnh. Tháng 4.1975, trong chính phủ áp chót của chế độ VNCH, ông Cẩn là Thủ tướng Chính phủ. Tôi, người viết bài này, vẫn còn giữ nghị định được ông bổ nhiệm vào một vị trí lãnh đạo kinh tế cấp tỉnh. Nghị định ký ngày 22.4.1975, về đến địa phương ngày 28.4.1975.

(Trái sang) Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Lương, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, ngày 15-9-1970. (Hình: Bettmann/CORBIS)

Tháng 6.1975, cụ Nguyễn Bá Lương trình diện tại Trại Long Thành (tên ban đầu là Trường 15 NV). Tháng 9.1979, khoảng 150 trại viên Trại Long Thành được đưa lên Trại Xuyên Mộc mới lập. Mỗi xe chở chừng 30 người. Chỉ có một cán bộ áp giải. Hai người tù chia nhau chiếc còng số 8. Cụ Lương cùng cụ Nguyễn Văn Tho, Trưởng khối Dân tộc Thượng viện được miễn còng, nhưng phải ngồi sát cabin xe. Tại Trại Xuyên Mộc, cụ Lương ở chung đội với tôi. Chúng tôi lao động rất nặng nhọc: thu dọn cây cối do đội lâm sản đi trước cưa; vỡ đất rừng cứng như xi măng để trồng khoai lang, bắp… Cụ Lương được phân công việc nhẹ hơn: lượm lặt chà cây, chất đống…

Tại Xuyên Mộc, người tù sau buổi lao động được tắm trên một khúc sông Ray. Muốn đến bờ sông phải leo xuống đoạn dốc hàng chục thước. Mỗi lần như vậy, tôi nắm tay dìu cụ Lương, mà nếu đi một mình, cụ không bao giờ lên nổi. Lần cuối cùng tôi dắt tay cụ Lương là một chiều thứ sáu. Tại dãy nhà 1, nơi cụ và tôi ở, chỗ ngủ có hai tầng. Bọn “trẻ” thích ở tầng cao, ban đêm được chút ánh sáng, khoảng khoát hẳn; người có tuổi và những anh ngại leo trèo thì nằm tầng dưới. Tôi nằm tầng trên, gần cửa ra vào, còn cụ Tho và cụ Lương ngủ tầng dưới, phía trong dãy nhà. Hai cụ già hủ hỉ với nhau.

Sáng chủ nhật hôm đó, chỉ sau hơn một ngày kể từ buổi chiều tôi dắt tay cụ lên khỏi dốc ở sông Ray, cụ Tho – khi thấy người bạn già vẫn chưa dậy sớm như mọi hôm, bèn thò tay vào mùng lay – thì phát hiện cơ thể cụ Lương đã lạnh ngắt tự bao giờ. Mọi người xúm lại, khiêng cụ Lương đi qua chỗ tôi nằm. Tôi chỉ kịp thoáng thấy cụ lần cuối. Những người được trưng dụng ra bìa rừng đào hố chôn cụ Lương là tù trật tự. Xong việc, họ về báo một “tin vui”: sau khi chôn cụ, một cán bộ “long trọng” đọc quyết định “phục hồi quyền công dân” cho cụ!

Xem tiếp: Chút ký ức sau 30.4.1975 (kỳ 2)