Little Saigon

Chút ký ức sau 30.4.1975 (kỳ 2)

501

LÊ NGUYỄN

Chút ký ức sau 30.4.1975 (kỳ 1)

Gặp Hồ Hữu Tường

Với nhân vật Hồ Hữu Tường, nhiều sách báo, tư liệu đã viết khá đầy đủ. Chỉ xin kể lại vài điều mắt thấy tai nghe…

Hồi trẻ, lần đầu tiên tôi biết tên tuổi cụ Hồ Hữu Tường qua tác phẩm Phi Lạc Sang Tàu xuất bản khoảng năm 1945-1946. Cụ nổi tiếng với tập truyện này vì qua những câu chuyện nửa hư, nửa thực có hướng tiên đoán thời cuộc thế giới, cụ đã dự đoán trúng phóc một sự kiện xảy ra 3-4 năm sau đó: đó là sự kiện lực lượng quân sự của Mao Trạch Đông chiếm toàn bộ đại lục Trung Hoa năm 1949… Cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950, cụ Hồ Hữu Tường sống ở Paris, Pháp, chủ trương nhà xuất bản Đông Phong, ấn hành một số tác phẩm, trong đó có ít nhất ba tác phẩm của cụ: Thu Hương, Chị Tập Gái nước Nam làm gì. Giữa thập niên 1950, cụ về Việt Nam, hợp tác với các lãnh tụ tổ chức Bình Xuyên, với vai trò cố vấn (theo báo chí, tài liệu đương thời). Sau khi lực lượng Bình Xuyên bị tiêu diệt, cụ cùng một số nhân sĩ bị truy tố ra tòa khoảng năm 1957 và bị kết án tử hình, giam tại Côn Đảo.

Sau ngày chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1.11.1963), cụ Hồ Hữu Tường được trả tự do. Năm 1964, cụ đăng loạt bài “Trầm tư của một người tội tử hình” trên tạp chí Bách Khoa, và cho xuất bản nhiều tác phẩm như “Phi Lạc bỡn Nga”, “Phi Lạc náo Hoa Kỳ”, “Diễm Hồng xuất giá”, “thằng Thuộc con nhà nông”

Ông Hồ Hữu Tường (1910-1980)

Năm 1967, cụ Hồ Hữu Tường bắt đầu lại cuộc đời hoạt động chính trị qua việc ứng cử dân biểu Quốc hội. Trong thời gian vận động tuyển cử, Đài phát thanh Sài Gòn dành mỗi ứng cử viên thời lượng phát biểu ngang nhau và phát biểu của cụ Tường độc đáo hơn cả. Trong lúc hầu hết ứng cử viên vẽ ra những chương trình hoạt động đao to búa lớn, cụ phát biểu vắn tắt, đại khái chỉ nói rằng cụ nguyện làm cục đá, đồng bào có lăn vào Quốc Hội thì lăn. Cử tri đã “lăn” cụ vào thật. Hoạt động của cụ tại Quốc Hội không thấy có gì nổi bật, ngoại trừ sự kiện đầu tháng 9.1969, sau khi có tin Hồ Chí Minh qua đời ở miền Bắc, cụ đứng giữa Hạ viện, đề nghị lập phái đoàn ra Hà Nội viếng. Tất nhiên, đề nghị của cụ không được tán đồng.

Năm 1971, trong lần bầu cử Quốc hội khóa sau (1971), cụ Hồ Hữu Tường và con trai là kỹ sư Hồ Xích Tú (được cụ dùng tên để mô tả nhân vật Xích Tử trong Phi Lạc Sang Tàu) cùng ra tái cử và ứng cử, song đều thất cử. Về đời sống chính trị của cụ Hồ Hữu Tường, nhiều người biết cụ thuộc nhóm trí thức miền Nam theo nhóm  Đệ Tứ quốc tế mà hai người nổi bật là Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu. Trong thời gian sống ở Pháp, cụ quen biết một số nhân vật có tiếng. Sự kiện được nhiều người nhắc lại là lá thư của văn hào Albert Camus, giải Nobel văn chương 1957, gửi cho chính quyền Ngô Đình Diệm, đề nghị trả tự do sau khi bản án tử hình tuyên cho cụ vào năm 1957.

Những năm 1960, một trong những đòi hỏi của chính quyền miền Bắc và nhiều thành phần chống lại chính quyền VNCH là trung lập hóa miền Nam Việt Nam. Yêu cầu này bị chính quyền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa chống lại triệt để, với lập luận rằng trung lập hóa là bước khởi đầu của việc Cộng sản hóa toàn bộ miền Nam. Những dịp này, người ta nhắc nhiều đến chủ thuyết Trung lập của cụ Hồ Hữu Tường, song cũng nhiều lần cụ minh xác là thuyết của cụ là “Trung lập chế”, không giống hình thức “trung lập hóa” miền Nam đang là đề tài sôi nổi trên chính trường. Thuyết của cụ như thế nào, người viết bài này chưa có dịp tìm hiểu kỹ.

Tại Trại Xuyên Mộc, cụ Hồ Hữu Tường ở cùng nhóm văn nghệ sĩ bị bắt năm 1976, trong đó có nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà văn Duyên Anh, họa sĩ Đằng Giao… Tôi không ở chung nhà với cụ, song vì lòng ngưỡng mộ đã lâu, nên mỗi trưa cùng xếp hàng ngồi trên mảnh sân rộng chờ trực trại gọi tên từng đội ra ngoài lao động, tôi thường dõi mắt nhìn theo cụ. Hình ảnh mà tôi vẫn nhớ đến bây giờ là một cụ già với vẻ hiền hậu, chất phác, phảng phất nét chịu đựng của một con người từng trải qua quá nhiều thăng trầm, cuối đời lại trở thành một người tù bệnh hoạn.

Mỗi trưa đi lao động, cụ mặc chiếc quần đùi màu đen, áo bà ba dài tay cũng bằng vải đen, đầu đội chiếc nón cối nhựa, tay xách lủng lẳng chiếc lon guigoz mà hầu hết người tù đều dùng để đựng nước uống. Mỗi lần đội của cụ được gọi tên, cụ đứng dậy bước đi với đôi chân sưng vù. Tôi nhìn theo mà lòng trào dâng niềm thương cảm mênh mang. Một trưa nọ, trong lúc anh em chờ gọi đi lao động, trại loan báo một tin bất ngờ, có hai trại viên được lệnh chuyển đến trại Hàm Tân. Đó là Hồ Hữu Tường và Duyên Anh. Cái kết của đời cụ nhiều người đã rõ, một thời gian sau, cụ bị bệnh nặng, được trại Hàm Tân cho đưa về nhà, và cụ đã mất tại nhà. Dù sao cụ cũng may mắn hơn cụ Nguyễn Bá Lương và nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.

Đôi dòng tâm tình

Với thế hệ độ tuổi 20-40 vào thời điểm 30.4.1975, quá khứ, hiện tại và tương lai đầy rẫy những bất ngờ. Ngọn gió thời cuộc thổi họ bay tứ tán, từ trại cải tạo đến khu kinh tế mới, rồi những cuộc vượt biên kinh hoàng và cuối cùng số phận đưa đẩy đến nhiều đất nước khác nhau. Qua thời gian, sự khác biệt địa lý cũng tác động ít nhiều đến cách nhìn, quan điểm đối với những người đồng cảnh ngộ trước đây. Điều đáng tiếc là một số người tù cải tạo sau 30.4.1975, sau khi trở về đời sống bình thường, lại trở thành tâm điểm của những phán xét cùng cách hành xử “cứng rắn”.

Hai người nổi tiếng tiêu biểu cho trường hợp này là nhạc sĩ Vũ Thành An và nhà văn Duyên Anh. Hồi chúng tôi còn ở Trại Long Thành, lúc đó còn cái tên “Trường 15 NV”, Vũ Thành An là Trưởng ban văn nghệ trường. Khoảng giữa năm 1976, tôi cùng vài bạn tù có hơn một tháng tập vở kịch có tên “Lửa Thù Sơn Mỹ” với sự chứng kiến của anh An và hai cán bộ trại là Trưởng ban Giáo dục, trung úy Đức; và Phó ban là Thượng sĩ Mạnh. Anh An đi Bắc trong đợt “bao bố 1” nên tôi bặt tin từ đó. Nay được biết anh đã là một nhà tu tại Mỹ. Duyên Anh từ lâu đã là người thiên cổ. Vợ anh cũng vừa mất. Ta không nên nhắc lại những gì anh đã trải qua và chịu đựng lúc còn sống.

Đã 45 năm qua rồi, chỉ mong với những ai còn tồn tại trên cõi đời này, nên nhìn những người một thời cùng chia sớt nhau từng chén cơm tù với lượng bao dung, và đặt mình vào tình huống riêng rẽ trước khi mang nhau ra phán xét. Cũng xin nói một sự thật là trong đời sống trại giam, một khi được cán bộ trại chỉ định làm một “chức sắc” như đội trưởng, đội phó, nhà trưởng, nhà phó, thì trong con mắt họ, bạn là người mà họ có thể khai thác. Khai thác được tới mức nào là tùy khả năng của anh cán bộ và nhất là khả năng “xoay xở” của người tù. Khi trở thành “tù chức sắc”, bạn phải tiếp xúc thường xuyên với cán bộ trại giam để báo cáo những công tác mà họ giao bạn làm. Bạn cũng thường xuyên đối mặt những câu hỏi đại loại: tâm trạng anh em như thế nào, có “yên tâm cải tạo” không, anh nào tỏ ra bất mãn, anh nào lười lao động, anh nào phát ngôn bừa bãi…

Bản lãnh và thực tâm của người “tù chức sắc” sẽ thể hiện trong những tình huống này. Nếu muốn che chở cho bạn tù, anh ta sẽ báo cáo cầm chừng, giấu những chi tiết mà bạn mình có thể bị lưu ý, trừng phạt; còn nếu muốn “lập công chuộc tội” để được xét tha tù sớm, hoặc để thanh toán một “ân oán” đang chi phối quan hệ giữa anh ta với ai đó, thì đó cũng dịp tốt nhất. Phán xét một người “tù chức sắc” như thế là điều không dễ. Nó đòi hỏi sự sáng suốt, công tâm và cái nhìn bao dung đối với những người đang ở tận cùng đáy xã hội. Đôi khi hoàn cảnh cùng cực, những mơ ước quá tầm thực hiện biến họ thành con thuyền chòng chành giữa làn sóng dữ và có thể ngửa nghiêng bất cứ lúc nào.

Sự “chòng chành” đó đã khiến nhiều người – chức sắc cũng như không chức sắc – sa ngã. Thời đó, khái niệm “ăng-ten” (antenne) rất phổ biến, dành chỉ những người tù chấp nhận làm những việc có thể có hại cho bạn đồng cảnh ngộ để mưu cầu một quyền lợi riêng tư, chẳng hạn được giao việc nhẹ, được đề nghị cho về sớm. Thành phần này gây nhiều xáo trộn trong tâm lý cũng như cách hành xử của anh em tù với nhau và không ít chuyện đau lòng đã xảy ra. Nhân ngày 30 tháng 4, nhắc chút kỷ niệm cũ, mong rằng trong cuộc sống đầy rẫy khó khăn, mỗi con người biết yêu thương nhau, đùm bọc nhau và bao dung với nhau, hơn là gợi lại oán thù và nhớ lại những thù hằn ân oán quá khứ. (LÊ NGUYỄN)