Little Saigon

COVID-19 – Một năm nhìn lại

SANJAY GUPTA (*)

Ngày này năm ngoái, nước Mỹ ghi nhận ca nhiễm COVID-19 đầu tiên. Đó là một người đàn ông 30 tuổi ở tiểu bang Washington trở về từ Vũ Hán, Trung Quốc và có các triệu chứng giống như các bệnh nhân ở Vũ Hán. Khi đi khám bệnh, người này được xét nghiệm, cho nhập viện và cách ly, theo dõi tiếp xúc, điều trị và cuối cùng được xuất viện.

Tiến sĩ Sanjay Gupta, Trưởng thông tín viên về y tế của CNN. Hình chụp qua màn hình CNN.

Phần nổi của tảng băng chìm

Từ người đàn ông này, và chắc chắn không phải là bệnh nhân COVID-19 đầu tiên trong cả nước, con số này cứ tăng theo cấp số nhân, vũ bão và phi mã lên đến 24 triệu người, chỉ sau một năm. Nhưng những con số chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.

Những ngày kỷ niệm rất quan trọng và ý nghĩa. Nó đánh dấu thời gian trôi qua và ghi nhận các sự kiện lịch sử, phân định trước và sau. Nhìn lại những ngày đầu của năm 2020, chính xác là ngày 23-01, Trung Quốc đóng cửa hoàn toàn thành phố đầu tiên là Vũ Hán; ngày 30-01, lần đầu tiên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố coronavirus là “tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng được quốc tế quan tâm”; Ngày 02-02, cái chết đầu tiên bên ngoài Trung Quốc đại lục; ngày 11-02, từ “COVID-19” được đặt cho căn bệnh do coronavirus mới gây ra – và trở thành từ phổ biến; ngày 29-02, người đầu tiên ở Mỹ chết vì COVID-19 cái chết đầu tiên được biết đến ở Mỹ (29-02) – mặc dù sau đó các quan chức y tế sửa đổi cột mốc đó là ngày 02-06. Và tôi sẽ không bao giờ quên ngày 09-02, lần đầu tiên tôi, trên CNN, sử dụng từ “đại dịch” để mô tả những gì đang xảy ra. Hai ngày sau, WHO cũng làm như vậy.

Khi loại coronavirus mới này, được gọi là SARS-CoV-2, xuất hiện, nhiều nhà khoa học, quan chức y tế công cộng và bác sĩ, trong đó có tôi, đã quay ngược lại với các coronavirus chết người khác, chẳng hạn như SARS và MERS, để tìm manh mối cho dự đoán nó sẽ hoạt động như thế nào. Chúng tôi cũng cố gắng so sánh nó với vi khuẩn gây cúm theo mùa và với các đại dịch cúm trong quá khứ, như đại dịch do H1N1 gây ra, và cả những đại dịch năm 2009 và 1918.

Tôi nhớ mình đã chúi đầu vào việc này, tiếp thu mọi thông tin có thể: đọc các tài liệu nghiên cứu và các bản kiểm chứng chưa xuất bản; nói chuyện với các đồng nghiệp ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và tại bệnh viện của tôi; nói chuyện với các chuyên gia như Tiến sĩ Anthony Fauci và chuyên gia y tế toàn cầu Peter Daszak.

Trong những ngày đầu tiên, chúng tôi nghĩ, rằng khả năng lây truyền từ người sang người là khó xảy ra, rằng khẩu trang không đặc biệt hữu ích, rằng loại vi khuẩn mới này có thể không gây chết người hơn bệnh cúm, rằng mọi người không có triệu chứng mà vẫn lây bệnh cho nhau qua đường không khí. Chúng tôi cũng từng hy vọng những điều này là sự thật, và đại dịch sẽ không tàn khốc như nó đã và đang xảy ra.

Nhưng chúng tôi đã lầm. Chúng tôi nhanh chóng biết rằng SARS-CoV-2 nguy hiểm hơn nhiều so với bệnh cúm và dễ lây truyền hơn nhiều so với những “người anh em họ hàng gần xa” của nó – SARS và MERS. Chúng tôi đã nghiêm chỉnh chấp nhận một thực tế, rằng việc những người nhiễm bệnh không có triệu chứng là lý do khiến sự lây lan nhanh khủng khiếp và không ngừng gia tăng.

Chúng tôi từng không muốn đối mặt với một tương lai nghiệt ngã như bây giờ. Ngay cả cách mà cựu Tổng thống Donald Trump nói với tôi, rằng ông ấy không muốn làm công chúng Mỹ hoảng sợ cũng có thể góp phần vào. Nhưng trung thực và trực tiếp, và nói sự thật với mọi người, đôi khi rất khó.

“Tổng thống Donald Trump nói với tôi, rằng ông ấy không muốn làm công chúng Mỹ hoảng sợ.” Tiến sĩ Cupta nói. Hình minh họa, chụp qua kênh YouTube của CNN.

Suy ngẫm về đại dịch

Những ngày kỷ niệm cũng là thời điểm để suy ngẫm, nhìn lại trải nghiệm này và đánh giá xem chúng ta đã làm đúng những gì và sai.

Chúng ta đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực khoa học và y tế, như phát triển các giao thức và phương pháp điều trị – cả được thay thế và mới – cho những người mắc bệnh. Đáng chú ý nhất, chúng ta đã phát triển một số ứng cử viên vaccine và thậm chí đã có được hai loại vaccine đang được cung cấp với tốc độ đáng kinh ngạc.

Nhưng chúng ta cũng đã mắc phải quá nhiều điều sai lầm: Hậu quả và bi thảm nhất là những điều cơ bản về sức khỏe cộng đồng, những thứ thật là dễ thực hiện nhưng không phải mọi người đều tuân thủ: đeo khẩu trang và giãn cách xã hội, tránh xa những thứ không thân thuộc trong nhà. Chúng ta đã từ chối chiếc mặt nạ rẻ tiền, để rồi hứng chịu hậu quả, và để rồi phải chấp nhận loại vaccine trị giá hàng tỷ USD mà các nhà khoa học phải nỗ lực hết sức để có thể bào chế và phân phối.

Sự thật là, đặc biệt là đối với nhiều người trong chúng ta đan sống trong một thế giới phát triển muốn khoa học giải cứu, nhưng không gì có thể giải cứu chúng ta khỏi chính chúng ta; bản chất con người của chúng ta. Và bản chất con người không giỏi đối phó với những gì nó không thể nhìn thấy.

Nhìn về phía trước, tôi lạc quan, nói về mặt y học. Tôi nghĩ rằng một khi hầu hết chúng ta được chích ngừa, SARS-CoV-2 sẽ giống như các coronavirus lưu hành khác, một mối phiền toái từ năm này sang năm khác, chứ không phải là một mối đe dọa hiện hữu. Tuy nhiên, hình ảnh của Hoa Kỳ với tư cách là một nước đứng đầu về y tế công cộng đã bị hoen ố bởi các sự kiện của năm ngoái và việc không có khả năng kiểm soát đại dịch tại chính quốc gia mình.

Chỉ sau một năm, đại dịch COVID-19 đã cưới đi sinh mạng của hơn 400,000 người tại Hoa Kỳ. Hình minh họa, một trong những bệnh nhân may mắn còn chỗ trong phòng cấp cứu. Nguồn: Participatorymedicin.org.

Đó là một thực tế, và chúng ta không thể xoay chuyển các số liệu thống kê có lợi cho mình: Hoa Kỳ chỉ chiếm có 4% dân số thế giới, nhưng có có tới 25% người nhiễm, và 20% người chết vì COVID-19 trên toàn thế giới. Liệu Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, cơ quan y tế công cộng hàng đầu của đất nước, có thể lấy lại phần nào uy tín đã mất ở trong và ngoài nước? Tôi tin rằng với sự chăm chỉ và thời gian, họ có thể làm được.

Nhưng xa hơn nữa, đất nước sẽ bị tổn thương về mặt tâm lý và tình cảm trong một thời gian dài, đặc biệt là những người đã mất đi các thành viên trong gia đình họ trong đại dịch COVID-19 này. Và ai nữa, đó là những nhân viên y tế đã chiến đấu không mệt mỏi – đôi khi đối mặt với sự hoài nghi hoặc tệ hơn – để chăm sóc người bệnh, trẻ em ở mọi lứa tuổi bị mất một năm học và chật vật để theo kịp; các gia đình mất thu nhập do bị sa thải hoặc mất việc do các hoạt động kinh tế bị ảnh hưởng, các chủ sở hữu phải đóng cửa doanh nghiệp của mình vì không gánh nổi những thiệt hại. Danh sách này cứ kéo dài mãi.

Tôi không nghi ngờ rằng chúng ta sẽ vượt qua được tất cả. Và hy vọng sẽ có những bài học kinh nghiệm. Nhưng quan trọng hơn, những bài học được ghi nhớ – bởi vì những người quên lịch sử sẽ phải lặp lại nó, và cái giá mà chúng ta phải trả trong đại dịch này là quá cao để điều đó xảy ra một lần nữa. Năm vừa qua chắc chắn đã dạy chúng ta điều đó.

(*) Tiến sĩ SANJAY GUPTA, Trưởng thông tín viên về y tế của CNN

Đ.T. lược dịch

Kế hoạch tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19 của Tổng thống tân cử Joe Biden