Judgment Non-Obstante Veredicto: Án lệnh phủ quyết nghị án của Bồi Thẩm Đoàn

Minh họa: Jez Timms/Unsplash
Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp

Judgment Non-Obstante Veredicto (JNOV) là một thủ tục trong luật pháp mà thẩm phán có thể dùng để phủ quyết nghị án của bồi thẩm đoàn trong một vụ kiện khi quan tòa nhận xét bồi thẩm đoàn đã sai sót trong bổn phận và trách nhiệm của họ, và nghị án của họ đưa đến tình trạng vô pháp hoặc bất công. Mục đích chính của JNOV là duy trì trung thực tính pháp trị và tránh những bất công đến từ nghị án sai lầm trên.

Minh họa: Giammarco/Unsplash

Như Tòa án Kháng án Liên bang (5th Circuit) Hoa Kỳ đã giải thích: “Một án lệnh chỉ định bởi thẩm phán (phủ quyết bồi thẩm đoàn) không chỉ để tiết kiệm thì giờ và giải quyết khó khăn khi bồi thẩm đoàn phải thảo luận quá lâu, nó còn là phương cách để bảo tòan những nguyên tắc luật pháp khỏi những ảnh hưởng sâu đậm nằm ngoài luật pháp – lòng trắc ẩn và thiên kiến (của bồi thẩm đoàn)”.  Rutherford v. Illinois Cent. R.R., 278 F.2d 310, 312 (5th Cir.), cert. denied, 364 U.S. 922 (1960).

Bồi thẩm đoàn là những người dân thường được lựa chọn tham dự phiên tòa với những trách nhiệm và phận sự cố định. Họ chứng kiến và nghe lời khai của nhân chứng, xem xét bằng cớ và đúc kết dữ kiện; sau đó áp dụng luật theo chỉ thị và hướng dẫn của quan tòa, và tiếp theo những phiên hội thảo kín giữa họ, cuối cùng đưa ra nghị án trước tòa.

Sự có mặt cần thiết của bồi thẩm đoàn trong phiên xử có một lịch sử lâu dài, nhưng lý do chính yếu có lẽ là tạo một lực đối trọng với thẩm phán hay chánh án, một cán cân để quân bình quyền lực của ngành tư pháp, tránh những lạm dụng trong một thể chế tự do và công bằng. Từ thế kỷ 18, luật gia hàng đầu của Anh Quốc, William Blackstone, giải thích định chế này như sau:

“Đây là một định chế vững chắc với hai đập ngăn phân cách những tự do của người dân và quyền lực của Hoàng Gia, khi sự thật của mỗi lời kết án phải được xác nhận bởi lá phiếu của mười hai láng giềng hay người cùng giai cấp được lựa chọn khách quan và không thành kiến…” (1)

Điểm cần lưu ý là một thể chế tự do có lý do để thiết lập bồi thẩm đoàn; trong khi một thể chế dân chủ không nhất thiết bao gồm định chế đó. Thí dụ như chính quyền Sô Viết Cộng Sản Nga tự nhận là dân chủ hơn tư bản, nhưng suốt lịch sử 73 năm không hề có bồi thẩm đoàn trong các phiên xử. Các “chuyên gia Liên Xô” lý luận rằng định chế kia là một sản phẩm tiểu tư sản đi ngược với nền công lý xã hội chủ nghĩa. (2) (Lập luận các chuyên gia này không rõ ràng lắm, vì một nền công lý đặt căn bản trên triết lý xã hội chủ nghĩa cao siêu vượt ngoài hiểu biết của đa số dân thì tự nó không thể dung chứa tính dân chủ. Dân có hiểu gì đâu mà làm chủ một thể chế như vậy được?) 

Ở mặt khác, mệnh đề “dân chủ không nhất thiết đòi hỏi có bồi thẩm đoàn” vẫn tương hợp với những thể chế không cộng sản. Vì nền dân chủ chỉ bảo đảm quyền bầu cử và lựa chọn chính quyền và không bao gồm quyền tham gia vào xét xử, khi ngành tư pháp được coi là cần giữ tính độc lập, không bị ảnh hưởng bởi biến chuyển chính trị thường xuyên và nhất thời bên ngoài qua lá phiếu bầu cử. Luật pháp thường thay đổi cho phù hợp với tình thế mới, nhưng đồng thời cần nền tảng tương đối vững bền, không thể sáng đúng chiều sai, đột biến theo khuynh hướng hay cảm tính của người dân.

Tuy nhiên, một khi luật đã ban hành, người dân nên có quyền giám sát sự thực thi nơi tòa án, một hình thức kiểm soát công quyền để giảm thiểu sự lạm quyền, vì lạm quyền đưa đến vi phạm hay tước đoạt tự do của người dân:

“Các nhà soạn thảo Hiến Chương cố gắng thiết lập một nền tư pháp độc lập nhưng nhấn mạnh cần bảo vệ chống lại những hành xử tùy tiện.  Một nghi phạm với quyền được xử bởi một bồi thẩm đoàn gồm những công dân như họ, cho nghi phạm kia một lá chắn chống lại một công tố viên hủ hóa hay quá tham vọng, hay chống lại một thẩm phán quá cứng nhắc, thành kiến, hay suy nghĩ khác thường… Sự ngần ngại trao quá nhiều quyền lực một cách thiếu  kiểm soát cho chính quyền để định đoạt cuộc sống và tự do của người dân được thấy trong hình luật với việc đòi hỏi phải có sự tham gia của người dân xác định là kết tội hay tha bổng.” (3)

Nói cách khác, bồi thẩm đoàn là một phương thức ngăn ngừa hay giảm thiểu sự chuyên quyền trong việc thực thi pháp luật. (4)

Minh họa: Tingey Injury Law Firm/Unsplash

***

Bồi thẩm đoàn trong dân luật là một định chế lâu đời hơn cả trong hình luật ở Anh Quốc. Quốc gia này có hai tiêu chuẩn xét xử: một dựa trên luật (có bồi thẩm đoàn), và một dựa trên khái niệm công bằng nói chung (không có bồi thẩm đoàn). Nền công lý Anh đã theo chân thực dân Anh du nhập vào Bắc Mỹ khi người Âu châu di dân đến đây lập nghiệp.

Vào thế kỷ 18, trước cuộc Cách mạng Hoa Kỳ giành độc lập, chính quyền thực dân buộc người Mỹ phải chấp hành những luật do Quốc Hội Anh đề ra, dù người Mỹ không được đại diện trong quốc hội đó. Tuy nhiên, người Mỹ được tham gia với tư cách thành viên của bồi thẩm đoàn trong những phiên tòa xét xử tại Mỹ, và họ nương theo định chế đó để phần nào giành lại quyền tự quyết tại địa phương cho mình. Khi xung đột giữa Anh và người Mỹ ở địa phương bùng nổ, người Mỹ dùng bồi thẩm đoàn để tẩy chay những luật lệ của Anh (bằng cách ra nghị án ngược lại với các luật đó) bị họ ghét bỏ, như luật sưu cao thuế nặng. Định chế thoạt đầu là một vũ khí chính trị chống sự áp bức của chế độ, theo thời gian biến thành một di sản văn hóa và tất cả các tiểu bang ngay sau khi Hoa Kỳ độc lập đều ấn định trong hiến pháp quyền có bồi thẩm đoàn khi xét xử.

Trong hệ thống luật pháp Mỹ hiện nay, nghi can có quyền được xét xử với sự tham gia của bồi thẩm đoàn trong cả phiên tòa hình sự lẫn dân sự. Tu Chính Án thứ 6 (hình sự) và thứ 7 (dân sự) của Hiến Pháp Hoa Kỳ (5) bảo đảm điều này:

“Trong những vụ kiện theo common law (6), khi giá trị của vụ kiện trên $20, quyền có bồi thẩm đoàn (của cả hai phía) được bảo vệ, và không một tòa án liên bang nào được phép tái thẩm định một dữ kiện đã được xác nhận bởi bồi thẩm đoàn, ra ngoài những nguyên tắc của common law.”

Đa số các tiểu bang cũng có điều khoản này. California xác định trong Hiến Pháp:

“Phiên xử với bồi thẩm đoàn là một quyền bất khả xâm phạm và được bảo đảm cho mọi người…” (7)

Bồi thẩm đoàn được duy trì suốt thế kỷ 19, nhưng đến đầu thế kỷ 20 thì bắt đầu có những chánh án và luật gia không còn quan niệm nó như một thành trì chống độc tài, mà cho đó là một thứ phiền phức. Edson Sunderland, học giả chính soạn thảo bộ luật tố tụng liên bang ban hành năm 1938, nhận định mỉa mai về sự yếu kém của bồi thẩm viên trong một bài khảo luận là “[những] người tạm thời đình chỉ những sinh hoạt thường nhật, không có kiến thức về luật pháp, chỉ có thể đóng vai trò của một người xét xử trong những cộng đồng sơ khai nhất.”(8)

Phán xét của Sunderland đã trở thành sự thật trong nhiều vụ kiện. Mặc dù bồi thẩm đoàn vẫn còn là định chế thiết yếu trong xét xử ở tòa án tại Mỹ, theo thời gian uy tín và tính chính xác trong công việc của định chế này suy sút vì bốn lý do, và đưa đến việc tòa thực thi JNOV nhiều hơn:

1/- Bồi thẩm đoàn nói chung không thể tin cậy được: “Các bồi thẩm viên phải phán xét và quyết định trong vội vã. Cùng lúc, họ làm việc đó trong bí mật nên thiếu trách nhiệm trước công chúng hơn thẩm phán. Họ dễ bị chi phối bởi cảm tính, sôi nổi và nhiều yếu tố vô can cho công việc. Do đó, kết luận của họ lắm khi dựa trên lầm lẫn về sự việc, quan niệm sai trật và những lỗi khác. Cho nên để củng cố sự tín nhiệm của quần chúng, tòa án cần giám sát và chế tài những nghị án của bồi thẩm đoàn một cách bất vị thân và cứng rắn.” (9)

Song song với tình trạng trên là những cuộc di dân ồ ạt vào Mỹ với số người không thông hiểu ngôn ngữ và văn hóa Mỹ được chọn làm bồi thẩm viên; và định kiến sâu nặng của giới thợ thuyền bình dân với công ty hỏa xa (gây ra quá nhiều tai nạn) hoặc với những công ty to lớn và quyền lực khác, khiến giới học giả nghi ngờ sự khách quan và trung lập của bồi thẩm đoàn. (10)

2/- Hồ sơ tòa ứ đọng: Thủ tục JNOV cho phép tòa giải tỏa số hồ sơ ứ đọng bằng cách ra án lệnh chung cuộc để tránh tái xét xử những vụ việc đã được xét xử và đã chiếm thời gian của tòa trước đây.

3/- Sự gia tăng số lượng của những vụ kiện trước tòa liên quan đến thương tích khác với những vụ kiện đơn giản trước đó. Thương tích là những trường hợp rất phức tạp về khía cạnh kỹ thuật để phân xử, khiến sự thực thi đúng trách nhiệm của bồi thẩm đoàn trở thành bất khả, ít nhất là quá khó khăn (do sự thiếu hiểu biết vể luật pháp).

4/- Các công ty lớn bị kiện tụng thường có phương tiện vận động hiệu quả (như vận động hành lang) với ngành lập pháp để ban hành những luật lệ có lợi cho họ về hai mặt: (1) Bớt đi những vụ kiện; và (2) nếu có thì kết thúc nó càng nhanh càng tốt để giảm thiểu tốn kém hoặc (3) ra luật thiên vị họ. (11)

Sự xuống dốc về uy tín này của bồi thẩm đoàn chỉ được cứu vãn phần nào khi các luật sư đại diện phía nguyên đơn thành lập các hiệp hội để liên tay vận động cho quyền lực của bồi thẩm đoàn (12), không nhất thiết vì họ muốn duy trì cán cân quyền lực trong phiên xử như đã nói ở trên, mà vì bồi thẩm viên thường thiên vị các nguyên đơn, nhất là khi đối phương (bị cáo) lại là những công ty lớn hay là nhân vật thế lực, giàu có. Nói chung, sự chênh lệch về quyền lực giữa hai bên trước tòa thường đánh thức khuynh hướng tự nhiên nơi bồi thẩm đoàn là phải bênh vực kẻ yếu bất chấp lý lẽ hay luật lệ.

Trong bốn yếu tố trên, yếu tố thứ nhất, sự ngắc ngứ lẫn lộn của bồi thẩm viên vì (1) sự thiếu hiểu biết trong một xã hội mà pháp luật đã phát triển cao độ như Mỹ, với mức độ phức tạp rắc rối của từng điều luật có thể gây hoang mang cho chính những luật sư chứ đừng nói là tay ngang; và (2) cảm tính của bồi thẩm viên ảnh hưởng lên suy nghĩ của họ khi ra nghị án, là vấn nạn lớn nhất quan tòa và các luật sư cần quan tâm triệt để, vì nó bào mòn nguyên tắc công pháp bất vị thân trong một xã hội pháp trị nghiêm minh và công bằng, trong đó mọi  người phải được coi là bình đẳng trong mắt pháp luật, là vô tội cho đến khi xét xử xong.

Minh họa: Bill Oxford/Unsplash

***

Dung dưỡng ảnh hưởng của cảm tính trong việc xét xử và để nó góp phần quyết định thay vì đặt nền tảng án lệnh hoàn toàn trên pháp luật, là vô hình chung tạo ra nền “công lý” nhân trị thay vì pháp trị.

Khi tiêu chuẩn duy nhất để tòa án xét xử là pháp luật hiện hành chứ không phải thuần phong mỹ tục của xã hội, hoặc tính đố kỵ của quần chúng đối với một giai cấp thiếu số nào đó, một bị can thành viên của giai cấp đó bị bồi thẩm đoàn ghép tội chỉ vì địa vị cá nhân hay vì đã làm một việc hợp pháp (không phạm luật) nhưng gây khó chịu, hiển nhiên là một bất công.

Như trong trường hợp một rạp hát (Mitchell Brothers, San Francisco) liên tục bị chính quyền địa phương quấy nhiễu bằng kiện tụng, khi người dân cho rằng hoạt động của rạp mang tính công xúc tu sỉ, dù sinh hoạt đó vẫn hợp pháp vì được bảo vệ bởi quyền tự do ngôn luận hay tự do bày tỏ của Tu Chính Án I trong Hiến Pháp.

Theo nhà báo David McCumber – tác giả sách X-Rated: The Mitchell Brothers: A True Story of Sex, Money, and Death (1992) – rạp hát này đã hứng trên dưới 200 vụ kiện bởi chính quyền từ cấp liên bang đến tiểu bang, để cuối cùng luật pháp ấn định là sinh hoạt của rạp hát đó, dù dung tục trong mắt xã hội đương thời, vẫn được bảo vệ bởi tự do biểu kiến trong Tu Chính Án I, và như vậy KHÔNG phạm luật. (13)

Hay một thí dụ JNOV gần hơn trong cộng đồng người Việt ở Orange County (Quận Cam, Little Saigon), miền Nam California 23 năm trước, khi một bác sĩ chuyên khoa tim tăm tiếng, Khiem Nguyen, M.D. (Cardiologist), bị kiện về sách nhiễu tình dục nơi làm việc bởi nguyên đơn Dana Nguyen, phụ tá phòng mạch của một bác sĩ khác. Dana Nguyen v. Khiem Nguyen, MD., Superior Court of the State of California for the County of Orange, case No. 732731 (1997)

Khi áp dụng luật về sách nhiễu, bồi thẩm đoàn phải xác định là dữ kiện (chứng cớ) khớp hợp với tất cả yếu tố đạo luật nêu ra. Một trong những điều kiện tiên quyết cho sự sách nhiễu nơi làm việc vào thời điểm đó là phải có sự liên hệ trong việc làm, thí dụ như chủ-nhân viên (employment relationship) giữa nguyên đơn và bị đơn.

Nhưng trong trường hợp này không hề có sự liên hệ đó giữa nguyên đơn Dana Nguyen và bị đơn Khiem Nguyen, MD. Phiên xử kéo dài vì kết hợp ba vụ kiện liên quan với nhau vào một, với những dữ kiện rất phức tạp. Thẩm phán chủ tọa đã nhận định về chứng cớ rất khác so với bồi thẩm đoàn. Dù vậy, sau khi thảo luận kín thì bồi thẩm đoàn lại ra phán quyết là bác sĩ Khiem Nguyen, MD. đã vi phạm luật sách nhiễu với nguyên đơn Dana Nguyen.

Ngay sau đó, và trước khi có phán quyết cuối cùng, nguyên đơn tổ chức họp báo và công bố kết luận của bồi thẩm đoàn. Nhật báo uy tín Los Angeles Times vào ngày 15 Tháng Tư 1997 tường thuật nội vụ theo kết luận đó, rằng bác sĩ Khiem Nguyen đã có hành vi sách nhiễu Dana Nguyen và phải bồi thường thiệt hại cho Dana Nguyen (https://www.latimes.com/archives/la-xpm-1997-04-15-mn-48940-story.html)

Nhưng báo L.A. Times đã không trình bày toàn thể nội vụ. Vì sau bài tường thuật nói trên, luật sư của bác sĩ Khiem Nguyen theo thủ tục dân sự tố tụng đã đệ thỉnh nguyện yêu cầu tòa bác bỏ bản án của bồi thẩm đoàn bằng JNOV. Như đã nói trên, vị thẩm phán chủ tọa đánh giá chứng cớ khác với bồi thẩm đoàn và kết luận rằng, hoặc (a) không một bồi thẩm đoàn khách quan và vô tư nào, dựa trên chứng cớ trình bày trước tòa, mà có thể đi đến kết luận như họ đã đưa ra; hoặc (b) bồi thẩm đoàn đã áp dụng sai điều luật.

Trong hồ sơ công khai lưu trữ ở tòa, chánh án chủ toạ Selim S. Franklin chấp thuận thỉnh nguyện JNOV, phủ quyết nghị án bồi thẩm đoàn và phán quyết bác sĩ Khiem Nguyen KHÔNG vi phạm sách nhiễu với Dana Nguyen. Án lệnh cuối cùng này được tòa ký vào ngày 26 tháng Giêng 1998, tức khoảng tám tháng sau nghị án của bồi thẩm đoàn nêu trên.

Tờ L.A. Times không hề cập nhật tin tức sau cho độc giả. Như vậy, nếu một ai vào thư khố của L.A. Times sẽ chỉ thấy tin tức là bác sĩ Khiem Nguyen vi phạm luật sách nhiễu, mà không hề biết thêm là tin tức đó đã trở thành bất cập do tòa sau đó đã phán quyết và sửa sai bồi thẩm đoàn. Bất công đó xảy ra chỉ vì bồi thẩm đoàn, vì cảm tính hay lý do nào khác, đã tắc trách trong nhiệm vụ của mình.

Viet H. Nguyen, J.D.

(UCB)

Tác giả gửi riêng cho Saigon Nhỏ

(Trong phần 2 sẽ đề cập đến những thiếu sót của bồi thẩm đoàn có thể liên quan ra sao đến tình trạng người dân ở VN than phiền một xã hội vô pháp qua hành xử của chính quyền, từ việc chấp hành luật pháp đến xét xử).

Ghi chú:

(1)  Thus, in the Eighteenth Century, Blackstone could commemorate the institution as part of a ”strong and two-fold barrier . . . between the liberties of the people and the prerogative of the crown” because ”the truth of every accusation . . . . [must] be confirmed by the unanimous suffrage of twelve of his equals and neighbors indifferently chosen and superior to all suspicion.”

(2) Bồi thẩm đoàn ở nước Nga được thành lập từ thế kỷ 19.  Dưới chế độ Nga Hoàng, bồi thẩm đoàn quyết định là “vô tội” trong 40% trong các vụ xử; và trong những vụ án chính trị thì mức độ tuyên bố vô tội còn cao hơn.  Điều này làm cho các cấp chính quyền tỏ ra ghét bỏ định chế bởi bối cảnh chính trị nước Nga và sự manh nha của phong trào cách mạng cộng sản trong thời điểm đó.  https://www.cairn.info/revue-internationale-de-droit-penal-2001-1-page-365.htm

(3) “The framers of the constitutions strove to create an independent judiciary but insisted upon further protection against arbitrary action. Providing an accused with the right to be tried by a jury of his peers gave him an inestimable safeguard against the corrupt overzealous prosecutor and against the compliant, biased, or eccentric judge. . . . a reluctance to entrust  plenary powers over the life and liberty of the citizen…   Fear of unchecked power . . . found expression in the criminal law in this insistence upon community participation in the determination of guilt or innocence.” https://www.mow.uscourts.gov/jury/history_of_jury_duty

(4) Renée Lettow Lerner, The Rise of Directed Verdict: Jury Power in Civil Cases Before the Federal Rules of 1938, 81 GEO. WASH. L. REV. 448 (2013)

(5)  7th Amendment to the United States Constitution:

In Suits at common law, where the value in controversy shall exceed twenty dollars, the right of trial by jury shall be preserved, and no fact tried by a jury, shall be otherwise re-examined in any Court of the United States, than according to the rules of the common law”.

(6) Common law là một bộ luật dựa trên án lệ và hồ sơ lưu trữ của những vụ kiện quá khứ, đối chiếu với những bộ luật hay đạo luật ban bố bởi ngành lập pháp hay hành pháp.

(7) California Constitution, Article 1, Sec .16:

“Trial by jury is an inviolate right and shall be secured to all, but in a civil cause three-fourths of the jury may render a verdict. A jury may be waived in a criminal cause by the consent of both parties expressed in open court by the defendant and the defendant’s counsel. In a civil cause a jury may be waived by the consent of the parties expressed as prescribed by statute.”

(8) Edson R. Sunderland, The Inefficiency of the American Jury, 13 MICH. L. REV . 302 (1914).

(9) Ernst v. Hudson River R.R. Co., 24 How. Pr. 97 (N.Y. 1862) 105-107

(10) Note, The Changing Role of the Jury in the Nineteenth Century, 74 YALE L.J. 170, 190–92 (1964); Limited Sovereignty in the United States, ATLANTIC MONTHLY , Feb. 1879, at 184, 185–89.

(11) Jerome Frank, Courts on Trial:  Myth and Reality in American Justice, 126–45 (1949)

(12)  Renée Lettow Lerner, supra, at  p.519.

(13)  https://hoodline.com/2020/11/legendary-porn-palace-the-o-farrell-theatre-closes-after-50-years/; David McCumber:  X-Rated: The Mitchell Brothers: A True Story of Sex, Money, and Death (1992).

…………………………………………………………………….

Minh họa: Sebastian Pichler/Unsplash

Judgment Non-Obstante Veredicto (JNOV):  Juggling for Control in the Courtroom

Judgment Non-Obstante Veredicto (JNOV) is a practice that a presiding judge employs to overrule the verdict rendered by the jury in a civil trial where s/he determines that the jury has erred in its duty and responsibility, and its verdict might lead to lawlessness or injustice.  JNOV mainly serves to maintain the correct spirit of the law and avoid injustice resulting from said error(s).

As the Court of Appeals for the 5th Circuit explained: “A directed verdict is a device to save time and trouble involved in lengthy jury determination. It is something more. It is a method for protecting neutral principles of law from powerful forces outside the scope of law — compassion and prejudice.”    Rutherford v. Illinois Cent. R.R., 278 F.2d 310, 312 (5th Cir.), cert. denied, 364 U.S. 922 (1960)

Members of the jury are ordinary citizens chosen to participate in a trial with definite responsibilities and duties.  They watch and hear testimonies from witnesses on the stand, examine evidence and construct “facts” therefrom, then apply the law thereto in accordance with the judge’s instructions and guidance, and following in-camera deliberations, issue the verdict in open court.

The development of jury participation in trials has a long history, but the principal reason is most likely to create a counterweight to the judge’s prerogative with an eye towards balancing the power between the people and the judiciary in an attempt to check usurpations, in promotion of freedom and justice for all.  In the 18th Century, a top-notch British jurist, Sir William Blackstone, reasoned thus:

strong and two-fold barrier . . . between the liberties of the people and the prerogative of the crown” because ”the truth of every accusation . . . . [must] be confirmed by the unanimous suffrage of twelve of his equals and neighbors indifferently chosen and superior to all suspicion.” (1)

It should be noticed that while a free polity might mandate juries, a democratic regime does not necessarily require them.  For instance, the Soviet Government claims to be much more democratic than its counterparts in the West, nevertheless had had no juries in its 73 years of history.  Soviet experts contend that such institution was a product of the bourgeoisie, therefore unfit for Socialist justice. (2)  (This argument remains unclear, as a concept of justice that’s grounded in a socialist philosophy that is too esoteric for the common person to grasp, in itself contravenes the concept of democracy.  Where a political philosophy surpasses the people’s understanding, the latter cannot possibly own or live it meaningfully).     

On the other hand, the premise that democracy does not demand a jury institution is not incompatible with non-communist regimes.  That is because democracy only warrants the right to vote and to choose an administration, and does not include partaking in judicial processes, especially when the judiciary must retain its independence to ward off influence from ever changing political winds through ballots.  The law must change to reflect new realities, yet must rest on stable foundation.  It cannot waver from morning to evening, ever mutating after temporal human tendencies or emotions.

Nevertheless, once the law has been enacted, the common people should be able to participate in its implementation, as a way to supervise the power-that-be so as to minimize its overreaching, which if left unchecked, often leads to violations or suppression of personal freedoms:

The framers of the constitutions strove to create an independent judiciary but insisted upon further protection against arbitrary action. Providing an accused with the right to be tried by a jury of his peers gave him an inestimable safeguard against the corrupt overzealous prosecutor and against the compliant, biased, or eccentric judge. . . . a reluctance to entrust plenary powers over the life and liberty of the citizen…   Fear of unchecked power . . . found expression in the criminal law in this insistence upon community participation in the determination of guilt or innocence.” (3)

In other words, the jury is a means to block or dampen autocracy in the administering of the law. (4)

***

Juries in British civil trials predated its use in criminal law.  This country employs two standards for judging:  One based on law (with juries) and the other, on equity (without juries).  The system followed the footsteps of British colonialists to reach North America along the waves of emigrating settlers from Europe.

In the 18th Century, before the American Revolution for independence, the British masters forcefully imposed laws passed by their Parliament onto Americans, though the latter had no representation in that legislative body.  However, Americans could participate as jurors in local trials, and rode on that institution to partly reclaim the right to self-determination.  When the Anglo-American conflict finally boiled to the surface, Americans used juries to boycott or eviscerate hated British laws such as those on taxes, by delivering verdicts that virtually nullified them.  What began as a political weapon in the end became a cultural artifact, and once independence was gained, all states proceeded to include the right to juries in their constitutions.

The current American legal system integrates the institution as a right, where a defendant must be afforded a jury in both civil and criminal trials.  The Sixth and Seventh Amendments to the federal Constitution guarantee it: (5)

In Suits at common law, where the value in controversy shall exceed twenty dollars, the right of trial by jury shall be preserved, and no fact tried by a jury, shall be otherwise re-examined in any Court of the United States, than according to the rules of the common law”. (6)

Most states followed suit.  California, in its Constitution, states:

“Trial by jury is an inviolate right and shall be secured to all…” (7)

Juries were retained throughout the 19th Century until the advent of the 20th Century, when the system began to show cracks.  Judges and scholars started to express doubts about their wisdom, and viewed them more as a nuisance than as an efficient means to counter government oppression.   Edson Sunderland, the principal architect of the Federal Rules of Procedure in effect since 1938, in an article published in the Michigan Law Review, did not hide his disdain for this so-called “wisdom”, which he considered to be an endemic shortcoming of the institution:

“Men temporarily called from the ordinary affairs of life, untrained in the law, are incapable of performing the functions of judges in any but the most primitive communities.”(8)

Sunderland’s rather blunt remark proved to be true in many trials.  While juries remain an essential institution in the courtroom all over America, with time, it has declined in both reputation and efficacy for four main reasons, leading to the court’s exercising JNOV more frequently:

  1. Juries are unreliable: “Juries will certainly act and decide more or less hastily, without time, in most instances, for much reflection, and also act and decide in secret; and from this consideration, and their large number, they certainly act under much less personal and individual responsibility than the judges; and besides, common observation and experience show that they are far more liable to be swayed by passion and excitement, and other undue influences. Their verdicts are therefore notoriously many times founded upon mistakes, misconceptions and other errors, which make it indispensable, to secure to this mode of trial the public confidence, that a power of supervision and review of the verdicts should exist in the courts, and should be exercised with fidelity and firmness.” (9)

Compounding this predicament were droves of newcomers to the land, with many immigrants being non-proficient in the English language and unfamiliar with the American way of life, who now served as jurors;  plus the working-class with its deeply ingrained hostility towards railroad companies (whose daily operations caused too many injurious accidents) or other giant and powerful corporations, all of which made the educated elite suspect the neutrality and objectivity of juries at large. (10)

  1. Backlog of court dockets: JNOV allowed courts to relieve themselves of the pressure of increasing dockets by using it as final judgments, thereby eliminating the burden of new trial of previously adjudicated cases that had already consumed courts’ time and resources.
  2. A multi-fold increase in the number of cases before the courts relating to injuries, as compared with much simpler cases of olden times, presented another management problem. Personal injuries are complex and technically challenging cases to try, which rendered the fulfilling of jury’s responsibilities impossible, or at least too unmanageable (due to jurors’ lack of knowledge of the law).
  3. Giant corporations would have the means to effectively influence legislatures through lobbying, for the latter to pass laws skewed in their favor (1) by limiting causes of action; (2) by providing new defenses helpful to their positions; or (3) by terminating lawsuits as quickly as possible to minimize costs. (11)

The drop in the prestige of juries was partially salvaged when plaintiff lawyers gathered to form associations to fight for the right and prerogative of juries (12), not necessarily to maintain a balance of power in the courtroom, but possibly because juries tended to lean more to plaintiffs’ side, especially where defendants were big corporations or people with stature or money.  In sum, the disparity in power between the two sides in court naturally evoked compassion in jurors, thence the motive to root for the underdog in disregard of reason or law.

Among the four reasons enumerated above, the vacillation and confusion in jurors due to lack of knowledge in a society where the law has over-developed like America, to such a degree of complexity that baffles even lawyers and professionals, let alone untrained lay men; along with unchecked emotions that motivate jurors in reaching a verdict, seems sufficiently troubling to warrant the utmost attention and concern of the legal community.  Left to itself, this state of affairs would inexorably erode the basic tenet of equal treatment in a society of law and justice, wherein any person must be considered innocent until proven otherwise by a competent tribunal.

***

To condone the shifting winds of human feelings in judging, or let it play a part in making a decision to any considerable extent, instead of restraining a verdict squarely within the law and its spirit, would inadvertently pave the way to a system of justice where reigns a government of men, not of laws.

Where the only standard for court to sit in a case should be the law present and not societal norms or customs, or for that matter, the prejudices of the mass towards a certain minority, a defendant belonging to that class who’s found guilty or liable by a jury solely due to his/her associations or affiliations, who has done nothing more than an annoying yet legal act, is undoubtedly an egregious injustice.

As in the case of a theater (Mitchell Brothers, San Francisco) that had been continuously subjected to harassment by the government from the federal level down, where the people (whoever that is) deemed its activities obscene, though they should be perfectly legal because protected by the freedom of speech and expression in the First Amendment of the Constitution.

According to David McCumber – author of the book X-Rated: The Mitchell Brothers: A True Story of Sex, Money, and Death (1992) – this theater had been made to bear an onslaught of no less than 200 suits by the government, to eventually have the law declare that be morally objectionable as its activities might, they were still protected by the First Amendment and therefore did not violate any law. (13)

Or another instance closer to home, to the Viet diaspora in Orange County, in the heart of Little Saigon more than two decades ago, when a reputable cardiologist, Khiem Nguyen, M.D., got sued by Dana Nguyen, a medical assistant for another doctor’s office, for sexual harassment.  Dana Nguyen v. Khiem Nguyen, MD., Superior Court of the State of California for the County of Orange, case No. 732731 (1997).

In applying the law regarding harassment in the working place, the jury must match the facts with all the elements of the pertinent law then.  Of primary importance here was the mandate that there be an employment relationship, viz., employer-employee, between plaintiff and defendant when the alleged wrongdoing occurred.

However, no such relationship ever existed in this case between Khiem Nguyen, M.D. and Dana Nguyen.  The trial was lengthy as it consolidated three separate causes of action among several parties, involving complex factual details.  The presiding judge viewed the body of evidence very differently than the jury.  Regardless, the latter, after closed deliberations, announced a verdict that Doctor Khiem Nguyen had committed harassment of Dana Nguyen.

Thereupon, and before the final judgment was issued, plaintiff’s side called a press conference to enunciate the jury’s conclusion.  The Los Angeles Times published said information on April 15, 1997, reporting in accordance with that determination, that Doctor Khiem Nguyen had harassed Plaintiff  Dana Nguyen, and would be made to compensate the latter for her damages.  https://www.latimes.com/archives/la-xpm-1997-04-15-mn-48940-story.html

But the L.A. Times, in a twist reminiscent of the proverbial half-truth, did not report the whole story.  Because after its first and also last publication on the matter, Doctor Khiem Nguyen’s legal team, in compliance with a civil procedure, filed a JNOV motion with the court seeking to set aside the jury’s verdict.  As said earlier, the judge was at variance with the jury in evaluating the evidence, and found that either (a) no reasonable jury could have arrived, on the weight of the evidence presented, at a conclusion they had; or (b) the jury had misapplied the law.

According to public court records, Presiding Judge Selim S. Franklin granted the defense’s JNOV motion, reversed the jury’s verdict and ruled that Doctor Khiem Nguyen did NOT harass Dana Nguyen.  The final judgment was signed on January 26, 1998, approximately 8 months after the jury’s verdict announcement.

The L.A. Times never updated the news for its readers.  Which means that anyone who digs into its archives, would only apprise that Doctor Khiem Nguyen committed harassment, without ever knowing that such information was now outdated because of  the court’s reversal to correct the jury’s error(s).  The injustice, as it should be so called, happened because the jury’s entrusted mission of establishing the truth, being led astray by emotions or other factors, eventually proved wanting.

Viet H. Nguyen, J.D.

(UCB)

Footnotes:

(1) Sir William Blackstone:  Commentaries on the Laws of England (Clarendon Press, Oxford, 1765–1770) at pp.349-35.

(2) Juries in Russia were established in the 19th Century under the Czar regime, which statistically found defendants innocent in about 40% of the cases.  The percentage was even higher in political trials.  Such situation worried the bureaucrats of the day, who openly disapproved of the institution in light of the volatile political climate of the country and the inception of revolutionary activities of the time.  https://www.cairn.info/revue-internationale-de-droit-penal-2001-1-page-365.htm

(3) https://www.mow.uscourts.gov/jury/history_of_jury_duty.

(4)  Renée Lettow Lerner, The Rise of Directed Verdict: Jury Power in Civil Cases Before the Federal Rules of 1938, 81 GEO. WASH. L. REV. 448 (2013)

(5) 7th Amendment to the United States Constitution:

In Suits at common law, where the value in controversy shall exceed twenty dollars, the right of trial by jury shall be preserved, and no fact tried by a jury, shall be otherwise re-examined in any Court of the United States, than according to the rules of the common law”.

(6) Common law is a body of law that comprises of precedents and rulings recorded in past cases, in contrast to laws or regulations enacted by the legislative or executive branch.

(7) California Constitution, Article 1, Sec .16:

“Trial by jury is an inviolate right and shall be secured to all, but in a civil cause three-fourths of the jury may render a verdict. A jury may be waived in a criminal cause by the consent of both parties expressed in open court by the defendant and the defendant’s counsel. In a civil cause a jury may be waived by the consent of the parties expressed as prescribed by statute.”

(8) Edson R. Sunderland, The Inefficiency of the American Jury, 13 MICH. L. REV . 302 (1914).

(9) Ernst v. Hudson River R.R. Co., 24 How. Pr. 97 (N.Y. 1862), at pp.105-107

(10) Note, The Changing Role of the Jury in the Nineteenth Century, 74 YALE L.J. 170, 190–92 (1964); Limited Sovereignty in the United States, ATLANTIC MONTHLY , Feb. 1879, at 184, 185–89.

(11) Jerome Frank, Courts on Trial:  Myth and Reality in American Justice, 126–45 (1949)

(12) Renée Lettow Lerner, supra, at  p.519.

(13) https://hoodline.com/2020/11/legendary-porn-palace-the-o-farrell-theatre-closes-after-50-years/; David McCumber:  X-Rated: The Mitchell Brothers: A True Story of Sex, Money, and Death (1992).

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Ý Kiến Độc Giả
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: