Jury nullification: Khi bồi thẩm đoàn bác bỏ luật hiện hành

Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Minh họa: Ian Hutchinson/Unsplash

Như đã nói trong bài trước, thủ tục JNOV trong luật pháp Hoa Kỳ cho phép thẩm phán bác bỏ nghị án của bồi thẩm đoàn (BTĐ) và đưa ra án lệnh chung cuộc khi thấy rằng nghị án trên một là căn cứ trên dữ kiện không phù hợp với trọng lượng của chứng cớ; hai là áp dụng sai điều luật ứng dụng trên nội vụ được xét xử. Ở đây, chánh án là trọng tài cuối cùng ở khía cạnh luật pháp áp dụng vào nội vụ.

Song song với JNOV là một truyền thống khác ngược lại, có tên gọi là Jury Nullification (JN).  Jury Nullification là hiện tượng từng xảy ra, nhưng chưa bao giờ được chính thức định chế hoá trong luật pháp. Đó là khi BTĐ quyết định tha bổng hay kết tội một nghi phạm hình sự, mà đúng ra nếu áp dụng đúng luật pháp phải đưa đến kết quả ngược lại. BTĐ quyết định tha bổng khi nhận định rằng điều luật đó bất công, hay hình phạt đi kèm quá khắc nghiệt. Khi ứng dụng JN, BTĐ không cần nêu ra lý lẽ hợp luật pháp, và tòa án không được xét lại quyết định tha bổng đó. Trong JN, bồi thẩm viên là trọng tài chung cuộc thẩm định cả chứng cớ lẫn luật pháp.

Minh họa: Annie Spratt/Unsplash

Điểm khác biệt giữa JNOV và JN là trong khi JNOV là định chế được ấn định như một quyền, thì JN chỉ là một chức năng của BTĐ, và chỉ tồn tại ở tòa án tiểu bang, vì Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã bác bỏ nó từ cuối thế kỷ 19 trong phiên xử Sparf and Hansen v. United States, 156 U.S. 51 (1895). Như vậy, trong hệ thống liên bang, BTD chỉ xét dữ kiện và chứng cớ, chứ không được xét sự sai đúng của luật lệ hiện hành. Sự khác biệt giữa “quyền” và “chức năng” quan hệ ra sao sẽ được đề cập đến bên dưới.

Vì sao có hiện tượng JN trong luật pháp Hoa Kỳ cần được giải thích. Ở một quốc gia mà quyền lực của nhà cầm quyền hòan tòan không có đối trọng (từ phía người dân) như Việt Nam, khi luật pháp hay điều gì tương tự được ban hành, không ai có quyền hạn hay chức năng chất vấn nó từ nội dung cho đến sự thực thi hay cứu cánh. Lấy thí dụ Chỉ Thị 16 chống đại dịch vừa qua. Từ công quyền cho đến người dân chỉ một bổn phận và trách nhiệm là chấp hành chặt chẽ, bất kể nó có thể đưa xã hội đến đâu.

Trái lại, Hoa Kỳ là một quốc gia có thể chế dân chủ với hình thức cộng hòa, lấy cân bằng quyền lực giữa dân và chính quyền làm căn bản, nên luật pháp không mang tính chất thiên-chỉ-cấm-cãi, mà khi áp dụng phải được xem xét trên nền tảng đúng-sai, hợp đạo-đức, không phản lại mục đích tối hậu của luật pháp nói chung. Nên mới xảy ra hiện tượng người dân qua BTĐ, gạt bỏ điều luật qua một bên khi nó bị coi là sai, hay vô đạo đức, hay không hướng về một cứu cánh được hiểu và chấp thuận trước.

Hiện tượng JN có nguồn gốc từ Anh Quốc trong một vụ truy tố một trung tá tên John Lilburne vào giữa thế kỷ 17. Anh Quốc là một vương quốc với lịch sử đặc thù, trong đó quyền lực quân chủ không tuyệt đối như các vương quốc lục địa Âu Châu. Các triều đại Anh Quốc dường như luôn theo tiền lệ Magna Carta, với sự thoả thuận chia sẻ quyền lực giữa triều đình và các thế lực địa phương – một hình thức sứ quân được hợp thức hoá – mặc dù thỉnh thoảng vẫn có những triều đại mưu đồ áp đặt quyền lực tuyệt đối lên tòan lãnh thổ trong giai đoạn nắm quyền. Luật pháp Anh có vẻ cũng phát triển theo chiều hướng duy trì sự thăng bằng quyền lực tương đối đó, tạo môi trường cho những chuyển biến bất ngờ trong luật pháp từ người dân thấp cổ bé miệng.

Trung tá John Lilburne bị truy tố về tội phản quốc khi in ấn và phổ biến một số tài liệu chỉ trích chính quyền Anh Quốc. Ở tòa, ông Lilburne không được phép có luật sư biện hộ. Để tự bào chữa, Lilburne lý luận rằng BTĐ có quyền hạn và bổn phận phải đối chiếu điều luật ứng dụng trong vụ án với cứu cánh của luật pháp nói chung, và nếu BTĐ xét thấy điều luật đó tự nó sai, thì phải tha bổng bị can dù hành vi của bị can đáng bị điều luật đó kết án. Lập luận của Lilburne là BTĐ không phải chỉ xét dữ kiện và chứng cớ, mà xét luôn cả sự đúng sai của những điều luật ứng dụng trong nội vụ. BTĐ trong vụ án này đã nghe lời Lilburne và tha bổng ông ta.

Theo chân Lilburne, giáo phái Quakers, là những kẻ bị bức bách bởi triều đại Stuart vì đức tin tôn giáo của họ, đẩy mạnh lý luận trên là BTĐ không cần phải theo chỉ thị của tòa về việc áp dụng một điều luật khi chính tòa diễn dịch sai về điều luật đó. Cuối cùng, trong vụ truy tố William Penn và William Mead vào năm 1670 về tội tụ tập trên năm người trái phép, BTĐ đã đi ngược lại chỉ thị của tòa và từ chối kết tội hai bị can, với lý do là dù kết tội thì hợp với luật, nhưng lại trái với lương tâm của bồi thẩm viên. Ngay sau đó, thẩm phán đã phạt tiền và bỏ tù bồi thẩm viên. Khi một BTV tên Bushell cương quyết không đóng tiền phạt, nội vụ được đưa lên tòa trên, vị thẩm phán chủ tọa Vaughan phán quyết là BTD không thể bị phạt vạ như vậy. Đây là tiền lệ cho việc BTĐ ứng dụng dân chủ trong tòa, vì họ đã chế tài thành công sự chuyên quyền của ngành tư pháp.

Khi định chế bất thành văn JN được du nhập vào đất Mỹ trong thời kỳ còn là thuộc địa của Anh, một vụ xét xử hình sự đã thiết lập nó thành tiền lệ tại đấy. John Peter Zenger bị truy tố về tội tuyên truyền phản loạn khi in ấn và phổ biến văn bản chỉ trích đốc phủ sứ New York.  Luật sư biện hộ Andrew Hamilton thuyết phục BTĐ rằng nếu nghi phạm Zenger nói đúng sự thật thì không thể phạm tội phản loạn. Và để làm phận sự của mình thì BTĐ phải được quyền xem xét cả chứng cớ, dữ kiện lẫn điều luật. BTĐ đồng thuận, gạt chỉ thị của tòa qua bên, và tuân theo lương tâm và hiểu biết của họ, tha bổng Zenger. Đây là tiền lệ về tác dụng của BTĐ ở Mỹ, khi họ quyết định công lý thay vì chỉ làm vai trò áp dụng luật vào dữ kiện.  Vào thời điểm đó, BTĐ là tiếng nói lương tâm của xã hội trong đối thoại giữa người dân và chính quyền. và kiêm nhiệm vai trò giám định và chế tài những sự chuyên quyền hay việc công quyền thực thi pháp luật một cách tùy tiện.

JN lớn mạnh ở đất Mỹ vì thứ nhất, BTĐ là lá chắn duy nhất ngăn chặn những thái quá của một chính quyền thuộc địa độc tài, phi dân chủ; thứ nhì, sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân, và sự phôi thai một quốc gia dân chủ độc lập (Mỹ) đòi hỏi người dân phải trực tiếp giám sát chặt chẽ mọi hoạt động của chính quyền non trẻ (để ngăn ngừa lạm quyền mà họ đã chịu đựng trước đó với thực dân); thứ ba, sự bất tín nhiệm của người dân đối với luật gia. Người dân sống với ý thức hệ đương thời là luật tự nhiên (John Locke), với mệnh đề là bất cứ ai cũng có thể nhìn ra được sự đúng/sai trong mọi việc. Ngoài ra, người dân không có lý do để coi trọng ý kiến của một thẩm phán hơn nhận định của mình, khi thẩm phán vào lúc đó cũng được tuyển chọn từ chính hàng ngũ thường dân, nghĩa là chẳng hiểu biết sâu xa về luật pháp hơn ai (dù không nghe ai nhắc là đôi khi còn có thẩm phán bị cả tật viết sai chính tả). Trong hoàn cảnh đó thì bất cứ bồi thẩm viên nào cũng có tư cách thẩm định luật pháp đúng hay sai ngang bằng thẩm phán.

Trở lại với đề tài trên, bồi thẩm đoàn có quyền hạn gì, và nên có quyền hạn gì? Bồi thẩm đoàn có chức năng tha bổng và kết tội, nhưng chức năng đó có giới hạn nào hay không, và dựa trên tiêu chuẩn nào?

Các học giả đồng thuận quan điểm JN, là bồi thẩm đoàn được quyền bác bỏ luật pháp, căn cứ trên tiền lệ đã thành nếp (như đã trình bày ở trên) trong lịch sử Hoa Kỳ, là một di sản văn hóa chính đáng và cần thiết được bảo tồn và phát huy. Trong cái nhìn đó, một số bênh vực cho JN ngày hôm nay cho rằng quan niệm đạo đức của bồi thẩm viên là điều kiện đủ để kích hoạt JN. Thí dụ như trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam, JN bảo vệ người dân Mỹ khi cho rằng hành vi can thiệp thô bạo bằng vũ lực vào nội tình một quốc gia khác là vô đạo đức, và Bộ Tư pháp thuộc hành pháp (Department of Justice) nỗ lực dùng pháp luật như một vũ khí để truy tố những thành phần cổ võ phong trào phản chiến hầu bóp nghẹt tiếng nói đó, là sai ở mặt đạo đức.

Một số khác cho rằng mục tiêu tối hậu của hệ thống luật pháp và ổn định hay trật tự của chính thể mới là tiêu chuẩn giới hạn chức năng trên. Thí dụ như trường hợp nội các Tổng thống Nixon cho người đột nhập văn phòng bác sĩ tâm lý Daniel Ellsberg để moi móc chi tiết bảo mật về bệnh trạng của ông ta, sau khi Ellsberg tiết lộ hồ sơ mật Ngũ Giác Đài tố cáo chính quyền Mỹ ém nhẹm những chính sách nhá nhem về Việt Nam để che mắt quốc dân, là sai ở mặt trật tự chính trị. Ở đây, nếu nội các Nixon phạm luật, BTĐ có thể tha bổng nhân danh an ninh quốc gia hay không? Song song, khi Ellsberg bị truy tố tội tiết lộ bí mật quốc phòng, thì BTĐ có nhân danh mệnh đề chính quyền phải minh bạch, vượt lên trên luật để tha bổng ông ta hay không?

Họ lập luận thêm rằng, công nhận JN là một việc thực tiễn trong trường hợp áp đặt điều luật quá máy móc đưa đến lợi bất cập hại. JN là phương tiện cho phép hệ thống luật pháp đáp ứng kịp thời, khi có bất cập giữa điều luật cứng nhắc và tình thế cấp bách đòi hỏi sự uyển chuyển để đạt được công lý. Như vậy chẳng những cho phép người dân điền vào khiếm khuyết nơi luật pháp, mà còn cho phép chính hệ thống pháp luật tự điều chỉnh khi đối diện với trường hợp mới lạ, thay đổi, hay xung đột mà khi ban hành luật, lập pháp hay tòa án đã không thể dự kiến mọi tình huống có thể xảy ra.

Cuối cùng, những học giả bênh vực JN nói rằng đó là phương tiện cho phép người dân thách thức những điều luật sai phạm hoặc trong nội dung, hoặc trong thực hành, và họ nên được khuyến khích làm vậy để dân chủ hóa đời sống xã hội ở mức thực tiễn, vì như vị quốc phụ Thomas Jefferson đã cảnh báo: “Cách luật pháp được thi hành quan trọng hơn cách nó được làm ra.”

Để trả lời những điều trên, những học giả và luật gia đối nghịch đưa ra một số lý do tại sao JN không nên có. Thứ nhất, giai đoạn lịch sử trong đó người dân có kiến thức tương đồng với thẩm phán đã chấm dứt theo thời gian. Hiện tại, thẩm phán và nhân sự ngành tư pháp nói chung được huấn luyện hòan hảo và chu đáo hơn. Hiện tượng BTD có thể bác bỏ pháp luật hiện hành đã không còn thích hợp vì luật pháp đã trở thành phức tạp và kèm theo đó là sự gia tăng uy quyền của tòa án; vai trò của biện lý hay công tố trong việc truy tố đã gia tăng và mang lại tính chính danh cho hệ thống hình luật công, thay vì chỉ là công lý tư như trước đây, trong khi BTĐ ngày càng tụt hậu về kiến thức và sự thông hiểu luật pháp, vì họ chỉ là thường dân không có đủ kiến thức chuyên môn về luật pháp.

Lại nữa, khi đất nước Hoa Kỳ trưởng thành và thể chế cộng hòa được thiết lập, quyền đi bầu trở thành phương tiện thể hiện dân chủ (bày tỏ lòng dân), và ngành lập pháp nay được ủy nhiệm việc làm luật. Cho phép một BTĐ chỉ gồm 12 người, bác bỏ luật là bác bỏ ý dân, đồng nghĩa xóa bỏ kết quả bầu cử dân chủ. Hơn nữa, quyền bác bỏ luật khi BTD nhận định rằng áp đụng điều luật đó sẽ gây tổn thương cho quan niệm “đúng/sai” về công bằng và đạo đức của họ qua JN, còn gây ấn tượng là BTD làm luật thay cho ngành lập pháp một cách tùy tiện.  Thể chế cộng hòa là cơ chế đúng đắn để thay đổi luật hơn là dựa vào phán xét đơn lẻ và bất nhất của BTĐ.

Khi nền dân chủ đã đặt định việc ra luật chỉ do lập pháp (trừ luật hành chánh), những người vì lý do nào đó bất mãn luật pháp hiện hành sẽ dùng JN để thay đổi chính sách ngoài luật chơi quy định của thể chế dân chủ. Nguy cơ ở đây là sự xói mòn định chế dân chủ, khi một số người chủ trương dùng BTĐ theo cách này để định đoạt chính sách công, biến các vụ án chính trị thành phương tiện để thay đổi những chính sách mà theo đúng luật chơi, phải được thay đổi qua lá phiếu và qua lập pháp.

Sau cùng, dung dưỡng JN làm mai một tính cách thống nhất của pháp luật ở tầm mức quốc gia. Luật pháp phải được áp dụng đồng đều trên toàn lãnh thổ, trong khi giá trị đạo đức của mỗi địa phương lại khác nhau. Cho phép JN sẽ gây tình trạng bất nhất, án lệ từ một địa phương sẽ không áp dụng được cho tòa án địa phương khác trong việc xét xử. Như vậy thì luật chẳng còn nghĩa đồng nhất và vững bền. Nếu tính kiên định trong luật pháp là cần thiết để người dân có thể xếp đặt đời sống thì JN sẽ phá vỡ điều đó.

Minh họa: Clarisse Meyer/Unsplash

Ở mặt thực tiễn, câu hỏi đặt ra là tại sao không hợp thức hóa JN thành một thứ quyền thay vì chỉ là chức năng? Bởi vì nếu thiết lập JN như một thứ quyền cố định, BTĐ sẽ không thể từ chối sử dụng nó trong công việc của họ. Lại khi sử dụng JN mà BTĐ, như đã nói ở trên, không cần lý giải tại sao, thì có thể đưa đến việc sử dụng nó bừa bãi. Ngược lại, nếu chỉ là chức năng, nghĩa là họ không được sử dụng một cách bừa bãi, BTĐ sẽ phải cân nhắc. Khi họ tha bổng dù đủ chứng cớ để kết tội, mặc hướng dẫn của quan tòa về luật pháp, họ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm tinh thần về quyết định đó, chứ không phải vì họ có quyền, nên muốn làm sao thì làm một cách vô trách nhiệm như trong tình trạng vô chính phủ.

Ngoài ra, xã hội nói chung có bao nhiêu năng lực và tài nguyên cho sự thay đổi luật pháp theo kiểu đó? JN có đưa đến kết quả mong muốn hay không còn tùy thuộc vào khả năng chuyên môn trong ngành tư pháp. Có phải mọi quan tòa đều có khả năng đo lường hậu quả nhất thời so với hậu quả lâu dài mà điều luật được đặt ra để ngăn chặn, trong những lãnh vực đa dạng như xả rác, vượt tốc, hay sử dụng ma túy hay không? Mặt khác, tòa án có nên là nơi thiết lập những tiêu chuẩn đạo đức cho xã hội và so sánh hay đánh giá những lề lối đạo đức đó hay không?

Để kết luận, ở mặt lý, định đoạt JN như một thứ quyền phổ quát là bất khả, đơn giản vì nó có công dụng tốt trong một số trường hợp, nhưng lại tác hại trong những trường hợp khác. Áp dụng JN không thể có tính cách cố định, mà phải tùy thuộc vào tình cảnh nhất thời trước mặt mà xã hội phải đối diện.

Hãy nhìn vào giai đoạn tái thiết (reconstruction period) sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Trên danh nghĩa, miền Bắc muốn bãi bỏ chế độ nô lệ để thiết lập sự bình đẳng giữa mọi công dân bất kể màu da. Miền Nam từ trước vẫn không coi người da đen ngang hàng ở mọi mặt.  Miền Nam dù thua trận, nhưng văn hóa truyền thống không bị xóa bỏ hay cấm đoán. Người dân phía Nam lằn ranh Dixie vẫn mang thành kiến cũ. Như vậy khi xét xử và để cho BTĐ tự do ra luật ở các tiểu bang miền Nam, chắc chắn bị can da đen sẽ không có được công lý.

Một người da đen bị truy tố, dù đúng hay oan, về tội hiếp dâm một phụ nữ da trắng chẳng hạn, sẽ có nhiều khả năng bị kết tội hơn tha bổng. Làm sao để giữ cơ chế JN mà vẫn bảo vệ được thiểu số nhân danh bình đẳng? Giải pháp cho vấn đề đó là không cho phép người da trắng tham gia vào BTĐ, dù không xóa bỏ cơ chế JN. Nhưng như vậy có nghĩa là chính quyền đối xử không bình đẳng với người da trắng. Ở đây, có hai giá trị song hành: một là quyền tự quyết, hay đạo đức của địa phương, và hai là quyền bình đẳng và tự do của mọi công dân ở bất cứ đâu trên lãnh thổ. Quốc gia phải chọn một. Nếu tự do và bình đẳng được coi có giá trị hơn trong lâu dài, thì cách thức tốt hơn có lẽ là hạn chế JN, hoặc tạm thời đình chỉ nó.

Ngược lại, trong những giai đoạn lịch sử sôi động trong đó chính quyền mạnh tay đàn áp những tiếng nói đối lập, thì hệ thống BTĐ phải trở lại đóng vai trò lương tâm xã hội. Tệ trạng này đã được thấy khi người dân thể hiện quyền tự do ngôn luận, là một quyền trên nguyên tắc bất khả xâm phạm, và chính quyền dùng luật pháp phủ nhận quyền hiến định đó, nhân danh an ninh quốc gia, không được tiết lộ bí mật quốc phòng.  Điển hình là chuyện Daniel Ellsberg tiết lộ hồ sơ Ngũ Giác Đài, và Edward Snowden tiết lộ chính sách bí mật theo dõi người dân. Trong trường hợp Snowden, chính quyền dùng đạo luật chống gián điệp (Espionage Act) để truy tố, khi anh ta tố cáo chính sách theo dõi kia là vi phạm Tu Chính Án IV, trong đó quy định chính quyền không được phép tự tiện theo dõi hoạt động riêng tư của dân khi không có lý do chính đáng được tòa án duyệt phê.

JN giới hạn trong xét xử ở tòa án. Một quan niệm tương đương với JN ở tầm mức rộng hơn là bất tuân dân sự. Dựa trên những kinh nghiệm từ JN, nếu nghĩ đến việc bất tuân dân sự trong một xã hội như Việt Nam thì nên nhìn thấy những gì, hy vọng có thể đề cập đến trong một bài sau.

Tham Khảo:

Rachel E. Barkow, the ascent of the administrative state and the demise of mercy, 121 Harv. L. Rev. 1332 (2008)

Jonathan Bressler, Reconstruction and the Transformation of Jury Nullification, 78 U. Chi. L. Rev 1133 (2012)

George C. Christie, Lawful Departures From Legal Rules:  “Jury Nullification” and Legitimated Disobedience, 62 Calif. L. Rev. 1189 (1974)

Kristine Creagan, Jury Nullification: Assessing Recent Legislative Developments, 43 Case W. Rsrv. L. Rev. 1101 (1993)

David A. Pepper, Nullifying History: Modern-Day Misuse of the Right to Decide the Law, 50 Case W. Rsrv. L. Rev. 599 (2000)

Plucknett, Theodore Frank Thomas, A Concise History of the Common Law (1956), The Online Library of Liberty – A Project Of Liberty Fund, Inc.

Alan Scheflin and Jon Van Dyke, Jury Nullification: The Right to Say No , 45 S. Cal. L. Rev. 168 (1972)

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Ý Kiến Độc Giả
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: