Cấm thịt rừng, đất nước Trung Quốc hết “cường dương”?

Share:
Một chợ tươi sống ở Trung Quốc. Getty Images.

NGUYỄN HÒA

Thịt rừng vốn là món khoái khẩu trên bàn ăn của người Tàu, nhất là người Tàu lục địa. Ngày thứ Hai 24-2-2020, thịt rừng leo lên một cái bàn cao cấp bậc nhất Hoa lục, bàn của Ủy ban thường vụ Quốc hội Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng để bị phán xét chứ không phải để ăn. 150 thành viên của Ủy ban này tuyên bố kể từ nay không cho dân Trung Quốc, mua bán, ăn, nuôi các loại thú rừng hoang dã nữa.

Lý do chắc ai cũng đoán ra, chính thói quen ăn thịt rừng, hoặc không rừng nhưng lạ như dơi chẳng hạn, đã làm cho nước Tàu thành nơi xuất phát hai trận đại dịch của thế kỷ 21, chỉ trong vòng có hai chục năm. Năm 2003, virus gây bệnh viêm phổi cấp tính (Sars) nhảy từ mâm thịt cầy hương lên người tại Quảng Đông. Năm 2020, virus gây bệnh phổi Vũ Hán vọt ra từ chợ thịt tươi sống Vũ Hán (có tin là từ con dơi).

Một góc chợ động vật hoang dã tại Trung Quốc (SCMP)

Người Tàu, cũng như người Việt, rất thích ăn thịt rừng, có thể nói là cái gì trong rừng mà nhúc nhích là có thể bị ăn. Từ những con dữ tợn như cọp, gấu, đến loại hiền lành như nai, thỏ; từ những con kỳ dị như nhím, trút (tê tê), hôi hám như chồn, ghê rợn như dơi,… Thói quen ăn uống này xuất phát từ hai niềm tin. Thứ nhất là những con thú rừng ấy sống trong hoang dã có sức mạnh, nên khi ăn chúng, ta cũng sẽ được truyền sang sức mạnh ấy, chữa được đủ thứ bệnh. Niềm tin thứ hai là nỗi ám ảnh về sức mạnh tính dục, làm người ta tìm đến những thứ lạ lùng như sừng tê giác, vẩy tê tê (người Tàu gọi là xuyên sơn giáp), bao tử nhím, rượu ngâm bảy tám loại rắn, hay… của quí cọp đực!

Khi Trung Quốc khá giả lên, và sau đó là Việt Nam, thói quen ăn thịt rừng không giảm đi, mà nó trở thành đặc sản, thành niềm hãnh diện, thành sự ưu đãi của một tầng lớp xã hội mới nổi lên. Dĩ nhiên, khi giàu lên nhanh chóng, hai niềm tin về sức mạnh thiên nhiên chữa được bá bệnh và sức mạnh tính dục lại không giảm đi mà có phần còn tăng lên mạnh mẽ. Trong khi đó rừng ngày càng teo lại, người ta bắt đầu nhân giống thú rừng trong môi trường nhân tạo, từ những con bị bắt ngoài thiên nhiên. Theo con số của tờ Bưu điện Hoa Nam thì ngành công nghiệp này ở Trung Quốc trị giá đến 74 tỉ USD!

Tại Việt Nam không có số liệu kinh tế về việc săn bắt, mua bán, gây giống các loại thú rừng, nhưng theo tần số xuất hiện liên tục của các bài báo về các vụ buôn lậu động vật hoang dã, nuôi cọp, gấu bất hợp pháp thì số tiền liên quan đến ăn thịt thú rừng tại Việt Nam không phải là nhỏ. Đặc biệt ở Việt Nam còn có một “dịch vụ” là… giả thịt thú rừng! Trong một phóng sự của trang Giáo Dục, vào năm 2012, gần 100% “thịt rừng” ở khu chợ Phạm Viết Chánh rất nổi tiếng về thịt rừng, ngay bùng binh Cộng hòa, Quận Nhất, Sài Gòn, là… thịt rừng giả. Các tay đồ tể mua thịt heo nái, da dày về để giả thịt heo rừng, gắn dây cước vào da, giả dạng lông heo rừng. Các loại thịt nai, chồn, cáo… thì được giả từ thịt chó và mèo.

Một con tê tê được cứu thoát từ bọn buôn lậu, đang được chăm sóc tại Rừng quốc gia Cúc Phương, Việt Nam. Ảnh Reuters.

Nạn giả thịt rừng tại Việt Nam, nhất là tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Hà Nội có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất vì lời rất nhiều. Người ta sẵn sàng trả giá rất cao vào niềm tin có được sức mạnh tính dục như cọp như gấu. Thứ hai là rừng ngày càng mất đi, thú rừng ngày càng khan hiếm. Điều thứ ba là sự thu hút mãnh liệt của thị trường Tàu. Theo trang ThienNhien.net, rùa tại Việt Nam bị thu gom, kể cả các loại gần tuyệt chủng để xuất sang Trung Quốc, thị trường trị giá tới 750 triệu USD các loại thịt rùa, cao rùa, mu rùa,…

Không thấy Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc nêu ra vấn đề thịt rừng giả trong lệnh cấm ban hành ngày 24-2-2020, nhưng chiếu theo thói quen bắt chước của người Tàu trong việc sản xuất hàng hóa, chúng ta có thể nghi ngờ rằng các “lò thịt rừng Phạm Viết Chánh” có thể tồn tại đâu đó ở Quảng Châu hay Vũ Hán. Một điều nữa cũng rất giống nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc tiêu thụ thịt rừng, là cả hai nước đều có… luật cấm!

Tại Hoa Lục, vào năm 1989, đã có luật bảo vệ động vật hoang dã, nhưng việc bắt, tiêu thụ, nhân giống trong môi trường nhân tạo vẫn diễn ra bình thường. Tại Việt Nam, cách đây hơn 10 năm, trong một vụ bố ráp các chợ thịt rừng tại Sài Gòn, một viên chức kiểm lâm cho báo chí biết là tại thành phố này không có một giấy phép nào được cấp cho việc mở nhà hàng thịt rừng, chợ thịt rừng tươi sống cả. Nhưng cho đến những năm gần đây, chợ thịt rừng Phạm Viết Chánh vẫn tồn tại với các tủ kính treo những tảng thịt vàng ươm rất bắt mắt, và người ta mua bao nhiêu cũng có. Năm 2018, một người phụ nữ tại Nghệ An bị phạt vì bán thịt rừng… qua Facebook.

Ngăn cản việc săn bắt động vật hoang dã bằng luật pháp trong mấy chục năm không xong, đùng một cái, con virus có cái tên xinh đẹp Corona (vương miện) lại làm cho quan chức Trung Quốc khiếp vía, trở nên quyết đoán, ra lệnh cấm tiệt thịt rừng, vì chỉ trong vòng hơn hai tháng nó đã giết chết hơn 2.500 người, gây nhiễm bệnh gần cả trăm ngàn người, nhà máy, chợ búa hãy còn đóng cửa dài dài, thiệt hại kinh tế không biết bao nhiêu mà kể. Vì thế cho nên Ủy ban thường vụ Quốc hội mới phải “vào cuộc quyết liệt” như vậy.

Tại Việt Nam, chưa thấy Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ban hành lệnh cấm mạnh mẽ như người đồng chí Trung Quốc, nhưng ông Văn Ngọc Thịnh, Giám đốc Quĩ bảo tồn thiên nhiên hoang dã của Việt Nam, nói với báo Dân Trí vào ngày 11-2-2020 rằng Việt Nam cũng cần phải làm như Trung Quốc là đóng cửa vĩnh viễn việc mua bán, ăn, thịt thú rừng.

Nhưng đùng một cái mà cấm tiệt như thế cũng không đơn giản, vì phải giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người trong các trang trại, xí nghiệp bấy lâu nay sống nhờ thịt rừng. Bên cạnh đó, dường như các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Hoa Cộng sản, sau khi quyết đoán mạnh mẽ, vẫn còn luyến tiếc “truyền thống Trung Hoa ăn thịt rừng”. Tờ Bưu điện Hoa Nam cho biết là các nhà chuyên môn về luật pháp và môi trường sẽ thảo luận với Ủy ban thường vụ Quốc hội về bộ luật bảo vệ động vật hoang dã năm 1989, nhằm đưa ra biện pháp thay thế công việc làm cho những trang trại kể trên, và những biện pháp để duy trì nền “y học Trung Hoa cổ truyền” có sử dụng động vật hoang dã.

Trận đại dịch Vũ Hán làm lộ rõ hai điều dị thường ở xã hội Trung Quốc cộng sản. Thứ nhất là việc giấu giếm thông tin của cơ chế đảng. Thứ hai là thói quen ăn uống khác người của người Tàu. Không rõ con virus nhỏ bé Corona có làm thay đổi được hai điều dị thường đó hay không?

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: