Có thể phong tỏa bao nhiêu triệu người nữa?

Share:
AFP

NGUYỄN HÒA

Hoa lục là quốc gia đầu tiên ra lệnh cấm việc đi lại của công dân, các hoạt động công cộng, thương mại, để chống COVID-19, với 11 triệu người ở khu đại đô thị Vũ Hán, nơi bùng phát dịch COVID-19. Ngày 23-1-2020, những đơn vị quân đội đeo mặt nạ, cùng các rào cản được triển khai tại các nhà ga. Các sân vận động, phòng triển lãm, những cơ sở lớn bị trưng thu dùng làm nơi cách ly người bệnh. Giường bệnh xếp hàng dọc, giống trại lính hơn là bệnh viện. Để có thể khống chế một trận dịch lớn nhất châu Á, các viên chức an ninh và y tế của Trung Quốc gõ cửa từng nhà một để tìm những người có triệu chứng nhiễm bệnh.

Sau một thời gian, việc phong tỏa được mở rộng ra hơn chục thành phố khác nữa của tỉnh Hồ Bắc với 60 triệu người. Đây là cuộc phong tỏa lớn nhất lịch sử nhân loại.

Rồi đến phiên nước Ý, đầu tiên là toàn bộ miền Bắc với các đô thị nổi tiếng như Milan, Venice, những khu vực công nghiệp nòng cốt của quốc gia, với 16 triệu người, bị phong tỏa. Nhưng đỉnh điểm là thứ Hai 9-3-2020, lệnh phong tỏa toàn quốc được công bố, tiếp theo các con số nhiễm bệnh và chết chóc tăng lên chóng mặt. Từ miền Bắc COVID-19 lan xuống La Mã huyền thoại, không chừa bất cứ ai. Thủ lĩnh Đảng Dân chủ dính virus, rồi đến cả một người nơi đất thánh Vatican, thủ đô tinh thần của hàng tỉ giáo dân Công giáo trên thế giới cũng nhiễm bệnh. Từ ngày thứ Ba 10-3-2020, 60 triệu người Ý sống dưới lệnh phong tỏa, các đám rước, ma chay, cưới xin, cấm hết.

Hai bờ đại dương cũng đã không che được nước Mỹ. Đến ngày 10-3-2020, có hơn 30 tiểu bang có công dân Mỹ nhiễm bệnh, con số cộng lại trên toàn quốc gần 1.000 người, với 30 người thiệt mạng.

Một mục sư hành lễ cho 450 người tại nhà thờ Georges Town, tại thủ đô nước Mỹ bị nhiễm COVID-19. Các giáo dân được nhà thờ gửi email cảnh báo sau khi ông được nhập viện.

Những câu hỏi lớn được đặt ra cho các chính phủ khắp năm châu là liệu họ sẽ làm như Hoa lục và nước Ý hay không? Nếu không thì làm sao cản được sự truyền nhiễm trong cộng đồng? Chẳng lẽ duy trì lệnh phong tỏa cho những khu vực nhiễm bệnh cho đến khi nào tìm được thuốc ngừa? Bao năm nữa?

Bác sĩ Anthony Fauci, đứng đầu Viện quốc gia về dị ứng và bệnh truyền nhiễm, nói với đài Fox là có thể sẽ không phải là những biện pháp khắc khe, mà là một sự kết hợp, làm cho xã hội chia ra, người ta không lây bệnh với nhau. Nhưng ông nói thêm là phải chuẩn bị tinh thần để đón nhận bất cứ điều gì có thể xảy ra.

Nhưng mặt khác, chính sách cách ly chưa chắc có kết quả hoàn hảo. Bà Wendy E Parmet, đứng đầu Trung tâm Luật và Chính sách sức khỏe của trường Đại học Đông Bắc (Northeastern University), nói rằng khó có hiệu quả khi cách ly một căn bệnh lây qua đường hô hấp như COVID-19. Việc cách ly cũng có tác dụng giảm sự lây lan, để chúng ta có thời gian tìm cách trị liệu. Bà lấy ví dụ như trường hợp du thuyền Grand Princess bị nhiễm COVID-19, và đang được cặp bến Oakland, California, để di tản hành khách, trong số đó đã có người nhiễm bệnh. Con tàu đấy trên thực tế có bị cách ly nhưng bị nhiễm COVID-19 từ lúc nào thì đến nay vẫn còn tranh cãi. Bà Wendy nói cần thận trọng và không vội đặt hết niềm tin vào chuyện cách ly.

Theo ông Lauren Sauer, Bộ phận nghiên cứu ứng phó thảm họa thuộc Đại học John Hopkins, có ba biện pháp đang được sử dụng nhưng chưa đúng.

Tách rời (social distancing) là một khái niệm không mới, được áp dụng trên cơ sở tình nguyện. Người ta được khuyên không đến gần người khác, tránh tập hợp đông người. Đây là cách được các viên chức Mỹ đặc biệt khuyến khích cho những bộ phận cư dân dễ thương tổn nhất của xã hội.

Cách ly (quarantine) đã được đề cập đến từ thời… kinh thánh Cựu ước. Người ta bị tách rời ra khỏi những không gian công cộng, trên cơ sở tự nguyện, hoặc bị ra lệnh. Chữ quarantine trong tiếng Anh bắt nguồn từ chữ quaranta trong tiếng Ý, có nghĩa là 40 ngày. Hồi chống lại bệnh dịch hạch ở thế kỷ thứ 14, nhà cầm quyền đã cách ly người bệnh trong thời gian 40 ngày. Trận dịch lần đó giết chết khoảng 25 triệu người, một phần ba dân số Âu châu lúc đó. Hoa lục và Ý đã ra lệnh cách ly; còn các ông nghị sĩ Ted Cruz (Texas), Paul Gosar (Arizona) thì tự cách ly sau khi tham gia một buổi hội họp của những người bảo thủ, mà hóa ra trong số ấy có một người đã nhiễm bệnh.

Cô lập (isolation) là biện pháp nghiệt ngã nhất. Khi bị cách ly, hay tự cách ly, là người ta chờ hết hạn để biết mình không bị bệnh, còn cô lập là đối một người đã mắc bệnh, bị cô lập để chờ lành bệnh.

Cho đến nay thì các quốc gia sử dụng những biện pháp rất khác nhau để ứng phó với COVID-19. Ban đầu, người ta cách ly những người đến từ những vùng nóng, hay có rất nhiều ca bệnh, như Trung Quốc, Ý, Iran, Hàn Quốc, Nhật Bản. Nhưng bây giờ đã có hàng trăm quốc gia bị nhiễm bệnh thì nếu cứ cách ly hết thì sức đâu mà làm. Nhưng cũng có nước tuyên bố sẽ làm. Thủ tướng Netanyahu của Do Thái nói là sẽ cách ly toàn bộ công dân Do Thái và nước ngoài đến quốc gia họ. Chính phủ Cộng hòa Czech nói bất cứ công dân nào của họ trong số 16.000 người đang sống ở Ý mà về nước thì bị cách ly ngay 14 ngày, nếu không sẽ bị phạt 130.000 USD.

Bà Parmet nói rằng ở Hoa lục, việc cách ly là quá trễ và quá mức, khiến những người bệnh “dính chùm” với nhau. Ông Sauer thì nói làm như vậy có khi tạo điều kiện cho những sự vi phạm nhân quyền trầm trọng. Sự cách ly có bản chất chia rẽ, có thể kích động hận thù, làm cho chính quyền có khuynh hướng sử dụng bạo lực. Ông nói tiếp là nếu không khéo việc cách ly sẽ dẫn tới những hệ lụy chính trị nghiêm trọng.

Nhưng ở Mỹ thì lại làm ít quá, theo bà Parmet, phí hết nhiều thời gian. Bà lấy ví dụ việc sản xuất chậm trễ các bộ thử cho người có triệu chứng, trong việc này nước Mỹ đứng đội sổ trong số các quốc gia phát triển. Bà kết luận: không ai nên ảo tưởng về chuyện COVID-19 sẽ chừa mình ra.

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: