Little Saigon

Ký ức gánh hàng rong và nếp sống đường phố Sài Gòn xưa

189

Trong muôn mặt của đô thị Sài Gòn trước 1975, hình ảnh những người lao động lam lũ trên đường phố luôn là để tài sống động. Không đến nỗi phải “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” nhưng họ cũng đã đổ biết bao mồ hôi công sức để có được bát cơm.

Có thể nói những gánh hàng rong này đã cùng “cộng sinh” với nếp sống văn minh giữa chốn phồn hoa đô thị đã hàng trăm năm qua. Đặc biệt là vào thời điểm binh biến, ly loạn hồi thập niên 1960, rất nhiều người ở vùng thôn quê buộc phải tìm lên Sài Gòn để mưu sinh, tạo thêm cho Sài Gòn một nếp sống đặc trưng trên đường phố.

Bài viết dưới đây của tác giả Trần Chánh Nghĩa đăng trên Vietnamnet.vn sẽ đưa chúng ta về quá khứ với những gánh hàng rong đầy kỷ niệm trên đường phố Sài Gòn xưa:

“Ai… bánh canh không?, Ai… cháo lòng không?”. Tiếng rao thật lớn nhưng êm tai. Người Sài Gòn không thể quên được một dạo những người bán hàng rong được ví như chiếc đồng hồ chính xác nhất. 9 giờ sáng là “Ai tàu hủ không?”, đến 10 giờ là “Ai chè đậu xanh bột bán nước dừa đường cát không?”.

Cứ thế, suốt ngày mỗi người một giờ, mỗi món ăn một thời điểm chính xác đến độ người dân không cần xem đồng hồ. Không ai cảm thấy khó chịu mà ngược lại, hôm nào vắng họ là cảm thấy nhớ nhung.

Gánh bánh canh giữa phố Sài Gòn

Trong bức ảnh “Gánh bánh canh giữa phố Sài Gòn”, chị bán hàng có gương mặt phúc hậu, đang nghiêng vành nón, một tay cầm tô, mắt nhìn vào nồi bánh canh đang tỏa hơi nóng bốc lên. Đôi quang gánh của chị đơn sơ, giản dị. Một đầu là nồi bánh canh khá lớn. Đầu còn lại, trên tấm nia là thùng nước rửa tô, một vài chiếc tô sạch.

Khách hàng của chị là một chàng trai mới lớn. Kẹp đôi đũa trong tay, cậu cầm muỗng múc nước lèo húp một cách ngon lành. Tất cả hoạt cảnh êm đềm đó diễn ra trên đường phố.

Mía lạnh, món ăn vặt một thời

Một bức ảnh khác, cũng đôi quang gánh nhưng người phụ nữ này bán mía ướp lạnh. Chị là một cô gái còn trẻ. Chiếc nón lá chị móc vào đầu sau của gánh. Ở đầu trước, một tủ kính nhỏ trong đó có một mảng nước đá, xung quanh chất đầy những khúc mía đã róc sạch vỏ.

Một ngày với chị không phải chỉ bấy nhiêu mía trong tủ kính mà “hàng dự trữ” còn đầy ở đầu gánh phía sau. Bởi thế không lạ gì khi thấy chị oằn lưng với đôi quang gánh.

Bánh tráng kẹo trên đường Tự Do, nay là Đồng Khởi

Đường phố Sài Gòn trước 1975 không đông đúc như bây giờ nên sự xuất hiện của những người bán hàng rong không gây trở ngại nào mà ngược lại còn điểm tô thêm cho sắc thái của Sài Gòn.

Một người đàn bà đứng tuổi với gánh bánh tráng kẹo rong ruổi trên đường Tự Do (nay là Đồng Khởi), một trong những con đường lớn ngay giữa lòng trung tâm thành phố. Chị người Quảng Ngãi, nơi có món ăn dân dã độc đáo này. Một chiếc bánh tráng nướng và kẹo mạch nha được kéo thành từng mảng phủ kín lên trên, rất ngon và đậm chất quê hương.

Ngày nay có khác hơn. Cách bán buôn không nhọc nhằn như trước nhờ vào những công cụ trợ giúp. Tuy nhiên đồng tiền họ kiếm được cũng không kém phần cay đắng.

Xe mì một thuở xa xưa

Xe mì trong ảnh nếu còn đến nay cũng phải gần 100 năm. Chiếc xe cũ kỹ. Trong thân xe là lò nấu nước, thùng nước lèo cùng củi than dự trữ. Mì được chứa trong những ngăn kéo.

Nghề nấu mì và xe mì là sản phẩm của người Hoa du nhập vào Việt Nam, sống với người Việt cùng với bao vui buồn đã trở nên quen thuộc.

Trước 1975, những chiếc xe mì này thường cố định ở một vị trí nào đó. Nó là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của người dân. Từ người lao động đến anh thương gia, ai cũng cần một bát mì khi đói lòng.

Ngoài phục vụ khách tại chỗ, nhiều xe mì còn có người đi vào tận các hẻm đông dân cư trên tay cầm hai thanh tre gõ vào nhau tạo thành tiếng kêu thay cho lời rao chào hàng. Dần dần tiếng gõ ấy trở nên quen thuộc và tên gọi “mì gõ” có từ dạo ấy.

Xe khô mực nướng bây giờ rất khó tìm thấy

Ở một chiếc xe đẩy tay khác, những con mực khô được treo ở trên cao thành hàng dài. Người bán hàng đang ngồi chờ khách. Xe bán mực khô này xuất hiện khá nhiều ở Sài Gòn vào những năm 1960 – 1970 và vắng dần, đến hôm nay rất khó tìm thấy.

Khách đến tự do chọn cho mình con mực ưng ý rồi đưa cho người bán nướng. Qua bếp than hồng, mùi thơm của mực bốc lên. Mực chín được cho vào chiếc cối quay vài vòng. Con mực tơi ra và chỉ cần xé chấm với tương thì không còn gì bằng.

Trước sự phát triển của công nghệ hiện đại, ít người còn nhớ đến xe nước mía quay bằng tay. Xe nước mía xưa được đóng bằng gỗ, không đẹp như bây giờ.

Ép mía bằng 2 trục nối với tay quay cũng bằng gỗ. Người bán nước mía thời bấy giờ thường là đàn ông mới có sức để quay bởi phải dùng 2 tay và thêm một chân mới quay được vòng tua ép mía.

Hàng rong bây giờ vẫn còn nhưng không như xưa. Đôi quang gánh và tiếng rao lảnh lót gần như đã vào dĩ vãng. Tiếng gõ “lốc cốc” của mì gõ cũng im ắng. Mì vẫn còn bán, mực vẫn còn nướng và nước mía vẫn ngọt như xưa nhưng những chiếc xe ấy trở thành huyền thoại. Với bây giờ, tất cả đều là kỷ niệm trong ký ức người dân Sài Gòn.

(Bài của tác giả Trần Chánh Nghĩa – Vietnamnet)

Trong nếp sống ở đường phố, nhiều người Sài Gòn từng sinh sống trước năm 1975 hẳn là vẫn còn ký ức về những khu “chợ trời” đã in đậm trong tâm trí. Cho dù mang tiếng là chợ trời, bày bán những mặt hàng không chính ngạch, nhưng những khu chợ vỉa hè này vẫn mang được văn hóa nhã nhặn, uy tín, chứ không chụp giựt, thậm chí là lừa đảo như chợ trời hiện nay.

Ở dưới đây, mời các bạn xem lại một số hình ảnh về các khu chợ trời ở Sài Gòn xưa:

Một điểm đặc trưng nữa của đường phố Sài Gòn cả trước và sau năm 1975 là tiếng rao đêm quen thuộc với ký ức của nhiều người. Ngày nay những tiếng rao hàng rong đã trở thành xa vắng, có thể là bởi nó đã bị “nuốt chửng” bởi vô số tiếng ồn xe cộ, tiếng tivi… Nhưng vào giữa đêm khuya vắng lạnh, thỉnh thoảng chúng ta chợt bùi ngùi khi bỗng nghe được một tiếng rao đêm lảnh lót ở xa vắng vọng về: “Bánh chưng bánh giò, chưng gai bánh giò”…

Trong cuốn sách Sài Gòn – Chuyện đời của phố, nhà văn Phạm Công Luận đã viết về kỷ niệm những tiếng rao của Sài Gòn ngày xưa:

“Hồi trẻ, tôi đọc bài Quà đêm trên rạch Tàu Hủ của Bình Nguyên Lộc trên một tờ báo và bật cười với nhận xét của ông khi nghe tiếng rao quà trong đêm Sài Gòn: “Ai ăn, bột khoai… đậu xanh… bún tàu… nước dừa… đường cát hôn!”. Điều ngộ nghĩnh là người rao kể rõ những thứ có trong món chè đó, rất thật thà, bộc tuệch”.

Cũng theo lời ghi của Phạm Công Luận, thì từ hơn 70 năm trước (1943), đã có một người Pháp viết một bài dài về những lời rao trên đường phố Sài Gòn ngày đó, có vẽ minh họa, ký âm từng tiếng rao. Đó là E.Berges.

Những trang viết để lại của ông thật quý giá, vì nếu không ký ức về chuyện đó sẽ mất đi: “Sáng bửng, Sài Gòn thức dậy trong tiếng rao hàng. Sự ồn ào của hàng ngàn kẻ buôn bán khiến không khí vui vẻ hẳn lên ở mỗi khu phố, mỗi con đường. Tiếng rao hàng vang lên từ Chợ Lớn đến Đa Kao, từ bến tàu Ba Son, chợ Mới (chợ Bến Thành) đến chợ Cũ (chợ Hàm Nghi), từ nhà thờ đến nghĩa trang. Suốt bảy ngày trong tuần, dưới ánh mặt trời miền Nam hay dưới cơn mưa tầm tã, họ cứ đi, đòn gánh trên vai hay đội rổ trên đầu, các ông và nhất là vô số bà bán hàng rao vang dưới những gốc me hay phượng vĩ, quyến rũ những người thèm ăn bữa nhẹ hay mua vài món nho nhỏ dằn bụng…”.

Ông Berges tả cô hàng bán mía ghim: “Với một tay, cô điều chỉnh thúng trên đầu, tay còn lại rảnh, điều chỉnh bước đi nhịp nhàng. Cô ta cất giọng lúc này lúc khác thanh tao: Ai ăn mía không? Cô bị vây lại ở đường Norodom (ngày nay là Lê Duẩn) bởi những đứa trẻ với hai xu mua được hai cây mía ghim”.

Khi nói về cô bán cháo cá, ông không hề nhắc đến nhan sắc, mà chỉ nói về dáng điệu của cô và cách bán hàng: “Đã 5 giờ chiều, dài theo đường Legrand de la Liraye (này là đường Điện Biên Phủ), cất lên giọng rao hàng ngắn của cô hàng bán cháo cá. Cô dừng chân góc đường, để xuống vỉa hè hai nồi đựng, xếp xếp mau lẹ những chén trên mâm bằng tre, ở giữa hai nồi cháo, quạt lửa hong nóng nồi cháo và phục vụ cho những khách vội vã thích ăn cháo cá hay đậu nấu nhừ. Thỉnh thoảng, cô đổi món hằng ngày và rao: Ai ăn cháo cá, bún không?”.

Lũ trẻ nhỏ kiếm sống trên đường phố bán thức ăn chế biến sẵn, sách báo, dịch vụ tại chỗ như đánh giày. Ông Berges luôn quan sát chúng bằng đôi mắt dí dỏm: “Chúng có hai đứa, tuổi chừng tám đến mười, để tóc cẩu thả bay theo gió, ánh mắt ranh mãnh. Chúng đi trên đường Pellerin (Pasteur), rồi cười giỡn, rượt bắt nhau, thỉnh thoảng chửi bới và đột ngột chỉnh sửa lại túi bán hàng rồi rao: đậu phộng rang, hạt dưa. Chúng ngoác mồm rao lớn giọng, không để ý đến giờ nghỉ trưa”.

Có khi chúng là những đứa bé bán báo: “Chúng tràn ngập trên đường Catinat (Đồng Khởi), ở những quán cà phê vỉa hè. Chúng rượt theo những bộ hành nhàn nhã, bằng những tiếng rao mời khó chịu mà tấn công liên tục khách uống bia. Trên đại lộ Norodom, trước nhà thờ, chúng chộn rộn, rình mò những người đạp xích lô và xe kéo, chạy lẹ tới họ, vừa chạy vừa lấy tiền. Chúng rao báo chữ Việt: Điện Tín, Sài Gòn ngày mai, thầy. Vào những chiều, khi nhà xổ số địa phương mở ra, cũng những đứa trẻ đó ngang dọc các đường phố, khoảng 22 giờ, bán vé số, giấy dò vé số trúng. Và sau đây là những lời tâng bốc sự giàu sang: Lô-tơ-ri, giấy dò số Đông Pháp, thầy!”. Có khi là thằng nhỏ bán bánh men, thứ bánh bây giờ chúng ta không thấy ai bán dạo nữa: “Nó để đầy bánh trong thùng gắn kiếng. Bánh nó làm bằng bột gạo lên men, rắc lên bánh loại bột thơm đậu và nước dừa. Nó đi bán trên đại lộ Catinat, với thùng bánh trên vai và rao: Ai ăn bánh men nước dừa không?”.

Theo quan sát của ông Berges, trên đường phố Sài Gòn 74 năm trước, người bán hàng rong đa phần là đàn ông. Đó là chú bán chổi lông gà với lời rao ngắn gọn: “Chổi lông gà không?”; những người bán chiếu bông: “Chiếu không?”; người bán tiết canh: “Ai ăn tiết canh không?”; người bán khoai lang: “Ai ăn khoai lang nấu đường không?”… (Trích Phạm Công Luận – Chuyện Đời Của Phố).

(Nguồn: nhacxua.vn)