Những Ngày Cuối Tháng Tư Không Quên

Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp

46 năm đã trôi qua, nhưng những ngày cuối Tháng Tư oan nghiệt đó không bao giờ phai nhòa trong tâm khảm của tôi.

Vừa mới cưới vợ chưa đầy một tháng, những ngày hạnh phúc đôi lứa bị bóng đen của sự mất mát lãnh thổ miền Nam bao phủ, làm mờ dần đi theo từng ngày, khi tin nơi này thất thủ, nơi kia di tản.

Trước ngày đám cưới, tối Mười Một Tháng Ba năm 1975, sau khi đi dạy ở một trường tư về nhà, ăn cơm xong tôi lên giường nằm đọc báo, một thói quen trước khi ngủ. Tôi giựt mình khi thấy một tin chạy tít lớn ở trang nhất: “Tiểu khu Darlak (Ban Mê Thuột) thất thủ”. Tuy vậy tôi không lo lắm vì cách đó hai tháng chúng ta đã mất tỉnh Phước Long nhưng tôi nghĩ rằng rồi đây quân ta sẽ tái chiếm được hai tỉnh này, như năm 1968 tái chiếm Huế và 1972 tái chiếm Quảng Trị. Nhưng không ngờ sau đó, chỉ không đầy nửa tháng kể từ ngày 16 đến ngày 29 Tháng Ba, ta mất luôn hai quân khu I và II.

Chúng tôi tổ chức đám cưới vào đầu Tháng Tư tại một nhà hàng gần rạp Đại Nam đường Trần Hưng Đạo. Tiệc cưới phải bắt đầu sớm, từ năm giờ chiều, để chấm dứt trước tám giờ tối, là giờ giới nghiêm bắt đầu. Dù là ngày vui của chúng tôi, nhưng trên gương mặt của mọi người đều lộ vẻ lo lăng về một tương lai đen tối.

Chỉ vài ngày sau đám cưới, một buổi sáng khi tôi chuẩn bị đi dạy thì nhiều tiếng nổ lớn phát ra từ phía trung tâm Sài Gòn. Không bao lâu sau Đài phát thanh Sài Gòn loan tin trung úy Nguyễn Thành Trung, Sư Đoàn 3 Không Quân ở Biên Hòa, thay vì thi hành một phi vụ chiến đấu với Việt Cộng, lại quay về Sài Gòn thả bom xuống Dinh Độc Lập rồi bay đi, đáp xuống Lộc Ninh, một quận của Bình Long mà quân ta đã bị mất vào tay địch từ mùa Hè đỏ lửa 1972. Thì ra hắn ta là một tên nằm vùng, lặn sâu trong Không Lực VNCH giờ mới lộ nguyên hình.

Rồi những tin dữ dồn dập ập tới. Phòng tuyến Phan Rang tan vỡ ngày 16 Tháng Tư, hai tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang bị địch bắt. Ngày 20 Tháng Tư, Sư Đoàn 18 Bộ Binh rút khỏi Long Khánh sau hơn mười ngày anh dũng cầm cự với địch quân đông gấp nhiều lần. Ngày 21, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức sau khi đọc một bài diễn văn tố cáo đồng minh Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay thế trong khi Sài Gòn bị Việt Cộng vây tứ phía.

Ngày 26 Tháng Tư, tôi lên Biên Hoà lãnh lương. Tuy tôi đã đổi về dạy tại Trung Tâm Giáo Dục Hồng Bàng ở Sài Gòn nhưng thủ tục chuyển lương chưa xong, vẫn còn nằm ở Ty Giáo Dục Biên Hòa. Hôm đó, tôi đi xe ôm ra ga xe lửa Sài Gòn. Trễ tàu nên tôi nhảy lên xe ôm đuổi theo tàu tới ga Hòa Hưng. Vẫn không kịp, lại đi xe ôm đến ga Phú Nhuận, thì tàu chưa tới. Tôi ghé nhà anh Nguyễn Phi Long, dạy cùng trường Ngô Quyền, rủ anh cùng lên Biên Hòa. Long đứng trên gác nói với tôi: anh đang chuẩn bị di tản ra nước ngoài theo người anh là đại úy ở Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi cười nói với anh: “Hết chiến tranh rồi đi làm gì!” Long là người Bắc di cư nên đã có kinh nghiệm về cộng sản, còn tôi là người miền Nam nên quá ngây thơ để sau này, nếm mùi cộng sản mất 11 năm.

Lãnh lương xong, tôi ra một quán nhậu gần rạp Biên Hùng gọi một chai bia và một dĩa chem chép xào tiêu. Tôi ngắm nhìn lần cuối thành phố Biên Hòa, mà tôi biết sẽ rơi vào tay Cộng quân nay mai.

Ngày 28 Tháng Tư, tôi có giờ dạy tại trường Saint Thomas (Nhà Thờ Ba Chuông) đường Trương Minh Giảng. Lúc cho học sinh làm bài tập, đứng bên cửa sổ nhìn đoàn trực thăng chở người Mỹ di tản khỏi Sài Gòn, tôi phân vân lo lắng không biết cuộc đời mình sẽ ra sao. Giờ giải lao, trông thấy vẻ mặt ưu tư của các thầy cô giáo, linh mục hiệu trưởng vào phòng trấn an mọi người: “Sắp có giải pháp, quý vị cứ yên tâm dạy học”. Nhưng liệu có “giải pháp” gì không khi miền Bắc đang thừa thắng tiến về Sài Gòn?

Buổi chiều trời mưa sụt sùi như để chia sẻ nỗi đau sắp mất nước của người dân miền Nam. Trong Hội trường Diên Hồng, Lưỡng Viện Quốc hội họp bầu đại tướng Dương Văn Minh lên làm tổng thống thay cụ Trần Văn Hương, để thương thuyết với phía bên kia như sự đòi hỏi của họ trước đó. Tuy nhiên, mọi người đều đoán là Việt Cộng sẽ không chịu thương thuyết vì họ đang trên đà thắng lợi. Trong thâm tâm, tôi ước mong bên ta còn nguyên vẹn Quân khu IV, mình cố thủ bên kia bờ sông Mỹ Thuận. Cùng lắm với phương tiện hải quân và không quân còn lại, nếu thua trên đất liền thì mình kéo ra đảo Phú Quốc giữ một nước Việt Nam Cộng Hòa thu gọn như Trung Hoa Quốc Gia giữ được Đài Loan sau khi mất lục địa về tay Trung Cộng.

Trước khi giao quyền lại cho tướng Dương Văn Minh, Tổng thống Trần Văn Hương có cùng ý nghĩ như mọi người khi hỏi tướng Minh: “Đại tướng lấy gì bảo đảm nói chuyện được với phía bên kia?”.

Đêm đó tôi trực trong Trung Tâm Giáo Dục Hồng Bàng với ông giám đốc Lâm Võ Huỳnh, và vài người bạn đồng nghiệp khác. Để bớt đi nỗi lo lắng về thời cuộc, chúng tôi uống bia và đánh xập xám giết thì giờ nhưng không quên mở thường trực chiếc radio để theo dõi tin tức. Thỉnh thoảng những tiếng nổ lớn của các hỏa tiễn 122 ly mà Việt Cộng bắn vào Sài Gòn, kéo chúng tôi về với thực tại đau buồn.

Từ bốn giờ sáng ngày 29 Tháng Tư, Bộ Tổng Tham Mưu, Phi trường Tân Sơn nhất, Bộ Tư Lệnh Hải Quân bị pháo kích dữ dội. Cộng quân chiếm được Nhơn Trạch, đặt hai khẩu 130 ly và bắn 300 quả đạn vào Tân Sơn Nhất gây nhiều thiệt hại. Các bãi đậu phi cơ, bồn chứa nhiên liệu, kho đạn… bị trúng pháo kích gây nhiều đám cháy lớn. Cũng trong ngày 29 Tháng Tư, tin Việt Cộng đã về gần tới Biên Hòa làm tôi nghĩ rằng Sài Gòn sẽ là bãi chiến trường đẫm máu. Lệnh giới nghiêm 24/24 được ban hành nhưng dân chúng nơi tôi ở ùn ùn kéo nhau ra kho Bata đường Tôn Đản, Quận 4 phá cửa hôi đồ. Tôi đứng bên kia đường nhìn quang cảnh hỗn loạn giờ thứ 25 của cuộc chiến mà đau lòng. 21 năm gầy dựng một miền Nam tự do, dân chủ và trù phú, mà chỉ chưa đầy hai tháng tất cả đều sắp đổ vỡ.

Một em học trò ở trong hẻm chung xóm với người bạn tên Bình của tôi, thấy tôi ở đó nên đến cho tôi hay cả nhà của Bình, kể bà nội của Bình hơn 80 tuổi, đều đi máy bay di tản sang Mỹ tối hôm qua vì Bình có hai đứa em gái làm cho hãng hàng không PanAm. Tối nhớ lại chiều ngày 26 Tháng Tư, khi từ Biên Hòa về, má tôi đưa cho tôi một mẩu giấy trong đó Bình nhắn tôi vào nhà nó có việc cần. Thì ra Bình định kêu tôi đi với gia đình nó qua Mỹ. Tôi đã lỡ hẹn với tương lai khi không đi gặp bạn tôi, chiều đó.

Sáng 30 Tháng Tư, tôi lấy xe Lambretta chở vợ tôi đi một vòng quan sát thành phố. Chúng tôi đi tới Tòa Đại sứ Mỹ trên đại lộ Thống Nhất, thấy người ta bu đông trước chiếc cổng khép kín của cơ quan này. Người người chen chúc nhau để được vào trong. Chúng tôi quay lại kho 5, quận 4, gặp một đám đông đang tìm cách xuống những con tàu đang đậu ở cảng. Tôi không có mảy may ý định nào ra đi lúc đó. Tại đây, từ một chiếc radio của ai đó, tiếng Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh binh sĩ VNCH buông súng đầu hàng “quân giải phóng” vang lên.

Thế là hết! Miền Nam không còn nữa. Chế độ mới sẽ đối xử với những người phục vụ trong guồng máy của chế độ cũ như thế nào? 11 năm kẹt lại ở Việt Nam tôi đã có câu trả lời, và bất cứ người nào cùng hoàn cảnh với tôi cũng có câu trả lời tương tự. Trong 11 năm đó, tôi thường tự nhủ “chỉ cần cho tôi sống một ngày như trước ngày mất nước, sau đó có chết tôi cũng vui lòng”.

Có những thứ mình có mà mình không biết là quý giá. Đến khi mất nó rồi mình mới cảm thấy tiếc nuối khôn nguôi…

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: