Little Saigon

Những điều không thể quên

Như chỉ mới hôm qua – Ký ức 30 tháng Tư

VƯƠNG MỘC

Thời gian vun vút qua mau, thắm thoắt mới đó mà đã mấy chục năm trôi qua…

Nghĩ đến thân phận lưu vong lại nhớ về ngày 30 tháng Tư năm 1975, buồn lòng không ngủ, tôi mở máy computer đọc được thông báo của Saigon Nhỏ, mở cuộc thi viết “Như chỉ mới ngày hôm qua”. Tôi miên man suy nghĩ, đúng như đầu đề cuộc thi, trong tôi, cái ngày phải buông súng đầu hàng, “nó” vẫn như chỉ mới hôm qua. Những điều không muốn nhớ nhưng vẫn không thể quên.

Tôi là một ký quèn, đối với chế độ mới chắc cũng không đến nỗi phải buộc tội mang nợ máu, thế nên tôi đã ở lại quê hương, không theo chân cùng đoàn người đi tỵ nạn.

Lầm!

Đơn vị tôi ở trong phi trường Tân Sơn Nhất, việc leo lên tàu bay theo đồng bạn không khó khăn gì, thế nhưng tôi đã lầm vì tin rằng chế độ nào thì cũng vì nhân dân.

Sau thời gian “học tập” tại địa phương nói về chủ nghĩa xã hội, về sự khoan dung của đảng và nhà nước, gia đình tôi vùi đầu “lén lút” kiếm sống nhưng cũng không thoát sự cấm chợ ngăn sông, xách cái giỏ đem vài thứ dư thừa ra chợ trời bán, nếu xui rủi cũng bị tịch thu. Vợ tôi có một cửa hàng may nho nhỏ cũng bị buộc vào hợp tác xã và lại cũng bị cưỡng bức phải đem máy may tập trung mà không được kể là vốn của mình và phải đến hợp tác xã làm, mỗi tháng được trả công 15 ký gạo và “tem phiếu” thực phẩm.

Con tôi nộp đơn xin làm công nhân hỏa xa cũng phải đến phường xác minh lý lịch và bị công an khu vực phê vào đơn “thành phần gia đình di cư, con ngụy quân ngụy quyền, có vấn đề.” Thế thì cơ quan nào dám cho làm việc. Chưa hết, mỗi tuần họp tổ dân phố lại bị “vận động đi vùng kinh tế mới”. Nói là vận động nhưng thực tế gần như bắt buộc với lời đường mật là gia đình nào có người đi “học tập cải tạo” sẽ được đảng và nhà nước chiếu cố cho về sớm, sum họp với vợ con.

Trong lúc quẫn trí, tôi đã có lần bàn với vợ: thôi thì trời sinh voi sẽ sinh cỏ, ở đâu cũng phải làm mới có ăn, mình thử dò la xem nên đến vùng nào? Nhưng đến khi hỏi ra mới biết là đảng chỉ định, không cho phép tự chọn mà nơi được đến toàn là chỗ khỉ ho cò gáy, biết bao gia đình đã cố công bới đất nhặt cỏ để kiếm miếng ăn, thế mà cũng không đủ cái để vơ vào miệng cho cả gia đình, nhưng như thế đã xong đâu.

Ăn đã vậy, ở còn khổ hơn, chỉ một căn lều tự chế mà cả nhà, đêm đến phải chui rúc vào ngủ. Thời tiết nắng mưa khắc nghiệt, muỗi mòng ở nơi hoang dại đem lại đủ thứ bệnh, nếu còn sức đưa được người bệnh đến trạm xá làng xóm xa xôi thì thuốc men cũng chỉ là những viên xuyên tâm liên, may mắn lắm thì được cấp vài thang dược thảo. Cái cảnh như thế, những người quen sống ở thành phố đâu biết đến cày bừa thuổng cuốc, dãi nắng dầm mưa, bán lưng cho trời, bán mặt cho đất mà đói vẫn hoàn đói. Thế nên có nhiều gia đình nếu may còn toàn vẹn chưa có người phải vùi xác ở chỗ không phải nơi mình chọn, lại bồng bế trốn về thành phố, lén lút sống kiếp đầu đường xó chợ, nhiều người còn nhà nhưng cũng không được “đăng ký tạm trú”.

Chuyện khóc hay cười?

Nhân viết đến đây, tôi xin kể một câu chuyện mà sự thể nó chỉ có thể xẩy ra ở nơi gọi là “Chủ Nghĩa Việt Nam” (năm 1978). Câu chuyện cười ra nước mắt:

Tôi có người bạn thân mà bố anh ta là một sĩ quan thủy quân lục chiến (Việt cộng gọi là “lính thủy đánh bộ” (chán mớ đời, chữ với nghĩa, Nôm không ra Nôm, Hán không ra Hán). Anh bạn tôi thương bố, nghe theo tuyên truyền “ai đi kinh tế mới thì người thân đi cải tạo sẽ sớm được về”. Thế là anh ta tình nguyện xung phong cắt hộ khẩu, xin cho một mình đi trước, khi nào ổn định nhà cửa sẽ đón vợ con đi sau. Một hôm được tin mẹ đau nặng, anh phải về nhà để đi thăm nom. Bất ngờ đêm đó công an đi xét hộ khẩu và anh bị bắt với lý do “tạm trú (nhà vợ) mà không đăng ký!”. Sáng hôm sau họ tha anh với lời tự kiểm “lần sau không được tái phạm”.

Câu chuyện như thế bạn khóc hay cười?!

Lại xin được nói về “cái thằng tôi” vốn thuộc loại dài lưng tốn vải, sau một thời gian “chà đồ nhôm”, tôi theo bạn lọc cọc đạp xe đạp đi khắp hang cùng ngõ hẻm mua “răng vàng bạc vụn”, đồng nát, ve chai… Thực tế là để che mắt phường khóm, không mang tiếng “ăn bám xã hội”, mặc dù xã hội – xã hội chủ nghĩa chẳng có cái quái gì để cho, ngoài việc lâu lâu phát cho cái “tem phiếu mua vải” để may mặc. Mà nực cười ở chỗ, nhiều khi một xuất vải, thay vì là một miếng (tôi không còn nhớ là dài ngắn bao nhiêu) thì được phân phối thành hai miếng, thậm chí có khi lại hai màu. May áo thì không đủ, mà may quần thì thiếu áo! Viết tới đây, tôi lại kể hầu độc giả một chuyện cười (hở mười cái răng):

Ở xóm tôi, có một bà giáo, vốn là gia sư của nhà tôi, hay bực mình vì cứ phải nhìn thấy đa phần cán bộ nữ ở miền Bắc vào (1978) đều mặc “quần vòi voi, áo cũn cỡn” (không phải là kiểu dáng, mốt mới mà do thiếu vải, như đã nói ở trên). Bà cụ sai con cháu phải may cho bà cái quần hai màu bên trắng bên đen, mỗi khi đi họp tổ dân phố bà đều mặc cái quần đó và luôn tranh ngồi hàng đầu. Một hôm có công an khu vực đến, gọi là đến giảng huấn và “viết thu hoạch” (?). Anh ta nhìn thấy bà cụ mặc quần như thế, bèn phê bình cái tội “già không nên nết”, ăn mặc lố lăng, và bắt bà viết kiểm thảo tại chỗ. Chẳng biết bà viết lách ra sao mà sau buổi họp, bà bị dẫn về phường để “làm việc”.

Cùng xóm với nhà tôi, có một trung tá Quân đội VNCH. Ông là người Việt nhưng gốc Ấn Độ, có vợ là người Pháp lai, ông (chết rồi) nên xin được không nêu tên. Ông giữ chức vụ Đặc Khu Trưởng Đặc Khu Rừng Sát. Sau khi bị “gẫy súng”, ông phải tập trung đi “học tập cải tạo” qua nhiều trại giam, từ Nam ra Bắc và bị chết trong nhà tù (chỉ biết thế, không rõ ở đâu) và đau đớn cho gia đình ông là không được nhà tù thông báo để “đi nhận xác chồng” như một bài thơ của ai đó. Thế là ông biệt vô âm tín. Thương thay.

Đốt sách – Phần thư

Tần Thủy Hoàng, một bạo chúa người Tàu, đã đốt sách và chôn sống học trò. Tội ác đó từ cổ đại hoang sơ đã tưởng rằng sẽ không bao giờ lập lại, ấy thế mà, ở thời điểm văn minh, con người đã tiến đến các ngôi sao ngoài trái đất, bọn VC vẫn ngu xuẩn tái diễn cái trò đốt sách. Sau 30 tháng Tư 1975, bọn VC lùa người đến từng nhà lục lọi tịch thu và đốt bỏ, bất kể loại gì. Tại nhà tôi có một bộ sách Đông y và Tây y, vẽ hình nam nữ với đầy đủ các bộ phận con người và tên gọi của nó. Bọn cuồng đồ ngu dốt “phán” là khiêu dâm, đồi trụy. Phải đốt!

Người xưa nói: Lịch sử sẽ có thể lập lại dù tiêu cực hay tích cực. Ôn cố tri tân là như thế đấy. Bọn cộng sản thường ngoắc mồm chê người xưa là phong kiến, hủ lậu, hãy sờ lên gáy xem xa hay gần. Nói người mà chẳng nghĩ đến ta! Sang Mỹ tôi được biết, có một nhà văn đã bỏ nhiều công sức và tiền của để sưu tầm và lưu giữ những cuốn sách còn sót lại, một việc làm rất ý nghĩa và thực tế, để bảo tồn nền văn hóa một thời của Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi chân thành hết lòng hoan hô, cổ xúy và ghi ơn nhà văn đó.

Chuyện ngoài Bắc

Năm 1978 hay 79 gì đó, tôi xin được phép địa phương cho ra Bắc để thăm anh ruột cựu trung tá công binh đang bị giam ở trại Ba Sao. Tôi được gia đình lén kể lại là người cháu của bố tôi, bị đi tù vì dưới thời Pháp thuộc. Anh có đi lính cho Pháp và được mang lon đội (trung sĩ) nên sau này thường được gọi là ông Đội. Trong thời gian này đang có cuộc cải cách ruộng đất rất ác liệt, việc đấu tố địa chủ, cường hào ác bá và theo Tây. Ông bị ghép hai tội: theo giặc và cậy quyền, hiếp dâm, ông bị tuyên án tử hình.

Trong cuộc đấu tố ông, cũng xảy ra một chuyện khóc lộn cười, sau khi bị sỉ nhục nhổ nước miếng vào mặt và đánh đập, thì đột nhiên có một “bà cốt cán nông dân” nhảy cỡn đến gần ông và nói “thằng đội Tây kia, mày đã hiếp bà đến hai lần, mày có nhận tội không?”. Ông vụt đứng dậy nhưng bị cán bộ đấu tố đè xuống, đành chịu trận nằm im dưới bàn chân của những tên “tân đao phủ” đang đạp lên người. Bỗng ông hét to lên “Thưa bà nông dân, thực ra con đã hiếp bà ba lần, chắc bà sướng quá nên quên mất một lần đấy!”. Đấu trường ồn lên tiếng đả đảo – đả đảo!!!

Câu chuyện “ba lần quên một còn hai” tưởng đến đó là hết nhưng vẫn còn hồi hai, tuy không đau thương nhưng rất bi hài.

Khi tôi được về thì ông ấy cũng được tha, nên chính đương sự đã kể lại câu chuyện trước mặt cả gia đình:

Trong khi đang chờ thi hành án, tức là chờ xử bắn, ông bị dẫn đi khắp các đấu trường để tuyên truyền, đây là kẻ đã phản bội giai cấp bần cố nông, thành phần chủ lực của đảng. Đến đâu ông cũng bị sỉ nhục và ném đá. Cơm đã chẳng được ăn no nên người ông teo lại như con mắm khô, chỉ còn da bọc xương… Một hôm ông nghĩ thà chết đâm còn hơn chết đói, ông lén trốn vào rừng những mong cho hổ vồ, đằng nào cũng chết. Hổ ăn thịt mất xác thì vợ con không phải chôn cất. Nhưng khổ nỗi hổ đâu còn nữa, cán bộ và dân quân đi săn tối ngày, chắc chúng nó đã tuyệt chủng. Ông đi thất thểu lang thang rồi bị quỵ xuống ngất đi, một lúc sau, tỉnh lại, ông nhìn quanh ngó quẩn và nhận ra ở bên đường có một ruộng bí đỏ, ông lết đến và vùi đầu cố nuốt hết một trái to tổ bố, những mong ăn, nhét cho đầy bụng để bội thực mà chết. Nhưng thần chết cất lưỡi hái tử thần, tha cho ông.

Sau ba ngày đi tìm cái chết, ông bị bọn cai ngục tìm bắt được.

Và lần này, sau khi về đến trại, ông lại được một may mắn nữa. May mắn đến tột đỉnh, cải tử hoàn sinh, ông được trại tuyên bố là sẽ tha ông và ông được dẫn về làng. Trên đường đi, ông được bọn áp tải cho ăn uống no. Sự đời có nhiều điều “thật mà như đùa”. Chính vì cái việc được ăn ngon và no bụng, ông lại nghĩ quẩn: “Chắc nó xử tốt là mình sẽ sắp bị hành hình”, vì ông có nghe các cụ già nói là, trước khi bị giết, bao giờ cũng được ăn uống tử tế và được nói lời cuối cùng, thế là từ đó, cơm canh để ra trước mặt mà không sao nuốt được! Đúng là chuyện đời.

Chuyện đời khi thực khi hư

Thực thì muốn khóc mà hư lại cười.

***

Có đầu thì phải có đuôi. Đã nói xa thì cũng phải nói gần cho “vẹn tình vẹn nghĩa”. Phần trên nói về các sự thể đã và đang diễn ra của VC ở trong nước. Điều mà tôi gọi “nói gần” ở đây là Hoa Kỳ, một quốc gia, cùng với nhiều nước trên toàn thế giới đã giang tay mở lòng cứu giúp người Việt chúng ta, từ vật chất đến tinh thần.

Chúng ta đang ở đây, được an cư lạc nghiệp, đều dưới danh nghĩa “tỵ nạn cộng sản”. Chúng ta trốn chạy sự độc ác, tàn bạo, vô nhân đạo, vô luật pháp. Sợ bị đấu tố, sợ bị tù đày, sợ bị vu oan, ghép tội rồi bắt đến đồn công an thẩm vấn, dưới mỹ từ gọi là “làm việc” để rồi chỉ vài giờ đồng hồ sau, gia đình được báo là nạn nhân đã treo đầu tự chết, nhưng trên người đầy những vết thương chí mạng. Thậm chí, ngay cả những người khỏe mạnh bình thường mà chỉ vì viết hoặc nói ra những “điều sai trái” với chính sách nhà nước, cũng bị mang những bản án rất nặng nề và tàn ác vô nhân đạo và bị tù đày. Người mạnh khỏe bỗng thành kẻ tâm thần, bị tống vào nhà thương điên! Than ôi!

Tôi không dám vơ đũa cả nắm, vì cũng có người đem trí não, tiền của về nước những mong chung lưng đấu cật, góp sức để xây dựng Tổ Quốc, nhưng cuối cùng, không sớm thì muộn cũng ôm hận, bỏ của chạy lấy người, cam lòng sống đời tỵ nạn, còn tình cố hương thì vọng về cố quốc… Cáo chết ba năm vẫn quay đầu về núi mà! Chúng ta ở đây, hay ở các nước tự do khác, còn nhỏ thì được ăn học tử tế, có nhiều người đã đạt bằng cấp cao, làm nên danh phận, thậm chí còn nổi tiếng thế giới. Lớn thì có công ăn việc làm, chẳng những đủ nuôi sống vợ con mà còn có dư để gửi về Việt Nam cho họ hàng thân thích. Người già thì được chăm sóc ăn ở, bệnh nhẹ có thuốc men, bệnh nặng có nhà dưỡng lão.

Ấy vậy mà, có một số kẻ đã quay lưng với đồng bào, múa may quay cuồng, ăn nói lỗ mãng, tục tĩu như một cuồng đồ nhưng vẫn trơ mặt tự vỗ ngực xưng là kỹ sư, là nhà báo, là tỷ phú, vung tiền làm những điều không giống ai, mà có người nói nặng là “làm việc ruồi bu”. Lại cũng có kẻ với danh phận, chức tước thuộc vào hạng cao cũng cúi mặt khom lưng, hoặc bẻ cong ngòi bút để xưng tụng, bênh vực kẻ ác. Nước Nga là cái nôi và là ông tổ của cộng sản mà cũng phải tự buông bỏ cái thiên đường xã hội chủ nghĩa. Tại sao vẫn còn những đệ tử, những cuồng đồ, cố ôm lấy, níu kéo vào cái lý thuyết không tưởng, “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”? Tại sao bọn chúng không biết ngẩng mặt ngửa đầu mà nhìn, mà nghĩ về tấm gương Liên Xô bị tan rã. Tự tan rã!

Quốc gia nào và ở thời điểm nào vẫn có những nhân tài, và bên cạnh đó, cũng có những kẻ, nhẹ thì xu nịnh, theo đóm ăn tàn mong được nắm xôi miếng thịt. Nặng hơn thì thành kẻ phản bội đồng bào, mãi quốc cầu vinh.

Than ôi! Vận nước chăng?

Ngưỡng mong hồn thiêng sông núi và Quốc Tổ ngàn đời Việt Nam phù trì cho nước nhà sớm có được Minh Quân, xứng danh là con Hồng Cháu Lạc, đua tài với bốn bể năm châu.

California, ngày 6 tháng 4, 2021

*****

Lời mời gọi cùng viết về “Ký ức 30 Tháng Tư”