Little Saigon

Sau 45 năm tại sao vẫn không thể hòa hợp?

462

VŨ ĐÌNH TRỌNG

 

Ngày 26 Tháng Tư năm 2020, trên trang mạng Quân Đội Nhân Dân đăng bài viết của tác giả Cao Minh nói về chuyện “hòa hợp dân tộc” nhân dịp “45 năm non song liền một dải”, 30 Tháng Tư năm 1975. (1) Ngày này đồng bào hải ngoại đặt tên là ngày Quốc Hận, Tháng Tư được gọi là Tháng Tư Đen.

Bài viết lại chẳng có gì mới, cứ nhai đi nhai lại luận điệu cũ rích của Đảng. Nhưng nghĩ lại, phóng viên báo đảng như Cao Minh thì chỉ viết được thế thôi.

Tuy nhiên, vẫn cần phải nói với nhau đôi điều.

 

1. Ai vi phạm Hiệp Định Paris năm 1973?

Cao Minh viết:

“Giở lại văn bản Hiệp định Paris năm 1973, chúng ta có thể thấy ngay, bản Hiệp định gồm 23 điều thì có tới 3 điều (11,12,13) về hòa giải, hòa hợp dân tộc.”

Tuy nhiên, “ta đã chân thành đấu tranh thi hành Hiệp định Paris 1973, thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc. Ta đã làm việc rất tích cực với các lực lượng thứ ba. Nhưng kết quả rất hạn chế. Ngay đêm Hiệp định có hiệu lực (27-1-1973), chính quyền Thiệu đã cho chiếm Cửa Việt, sau đó ta phản kích lấy lại. Có thể nói là không có lấy một ngày hòa bình. Đã không có hòa bình thì không có điều kiện cho hòa hợp” – ông Nguyễn Khắc Huỳnh kể.

Dẫu như vậy nhưng sau này, trong các chiến dịch giải phóng miền Nam, chúng ta đều thực hiện nghiêm túc chính sách nhân đạo đối với tù, hàng binh. Ngay sau ngày toàn thắng 30-4, tối 2-5-1975, ta đã trả tự do cho ông Dương Văn Minh và nội các chế độ Sài Gòn tại Dinh Độc Lập. Theo lời kể của ông Nguyễn Khắc Huỳnh, những nhân vật cao cấp thuộc chính quyền cũ đầu hàng ở dinh Độc Lập ta đều tôn trọng, không bắt bớ gì mà để họ được tự do.

Nghe “nhân đạo quá”! Nhưng sự việc được nhìn nhận khác hoàn toàn:

Luật sư Lê Trọng Quát, Dân biểu thời Đệ Nhất Cộng hòa, Quốc Vụ Khanh thời Đệ Nhị Cộng hòa, cho biết trong khi Hoa Kỳ và các nước đồng minh buộc phải rút lui sau khi hiệp định được ký kết, thế nhưng 100.000 cán binh Việt cộng vẫn còn ở lại trong Nam mà hiệp định hoàn toàn không nói đến. “Đó là một ẩn khuất quan trọng đã quyết định số phận của miền Nam Việt Nam.”

Ngay sau khi Hiệp Định Paris có giá trị, miền bắc Việt Nam đã lợi dụng những vùng “tranh tối, tranh sáng” hay vùng “da beo” nơi không phân biệt được quốc gia hay cộng sản, để tiến hành cái mà họ gọi là: “Cuộc đấu tranh của nhân dân ta để thi hành Hiệp định Paris, thực chất là cuộc đấu tranh để tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam kéo dài hơn 2 năm nữa mới kết thúc.” (2)

Hành động này của Việt cộng có được gọi là sự vi phạm Hiệp Định Paris hay không?

“Sự vi phạm thứ hai chúng ta đều biết là quân đội chính quy của Bắc Việt cộng sản đã hoàn tất cuộc xâm lăng, tràn vào chiếm cứ thủ đô Sài Gòn ngày 30 Tháng Tư năm 1975. Chúng ta thấy rõ ràng là họ vi phạm hoàn toàn Hiệp định Paris.” (2)

Nói một cách khác, Nếu Cộng sản Bắc Việt không vi phạm Hiệp Định Paris, không đưa quân từ miền Bắc xâm chiếm miền Nam thì Sài Gòn vẫn là thủ đô của nước Việt Nam Cộng Hòa.

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, chỉ trong vòng hai tháng, hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị đưa vào các trại tập trung “cải tạo.” (Hình: rfa.org)

 

2. Dối trá, đê hèn trong chính sách cai trị miền Nam

Cao Minh trích lời bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ Tịch Nước CHXNCNVN, như sau: “Chúng ta giành thắng lợi hoàn toàn ngày 30-4 với kết quả một thành phố Sài Gòn nguyên vẹn và sau giải phóng Miền Nam, không hề có “tắm máu” chính là nhờ chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Hòa giải, hòa hợp dân tộc xuất phát từ truyền thống khoan dung, nghĩa tình của dân tộc ta từ xưa”. (1)

Nhà báo đảng này cũng không quên đề cao tinh thần khoan dung và tư tưởng “hòa hợp dân tộc” của ông Hồ hồi còn sống, và các nhà lãnh đạo đảng hiện này cũng “thấm sâu tư tưởng và chủ trương” này.

Chúng ta hãy xem sau khi cưỡng chiếm miền Nam, người Công sản đã làm gì để “hòa hợp dân tộc.”

Ông Nguyễn Cao Quyền, cựu viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH, bị “tù cải tạo” 10 năm, từ 1975-1985, nhớ lại:

“Chỉ vài ngày sau khi chiếm trọn miền Nam, những người Cộng Sản đã lùa quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia vào tù bằng một thủ đoạn vô cùng hèn hạ. Trong một buổi ra mắt mừng chiến thắng, Tướng Cộng Sản Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) với dụng ý hiểm độc đã tuyên bố trước báo chí một câu mà những người bị ‘cải tạo’ không thể nào quên ‘Đối với người Việt Nam không có ai là kẻ chiến thắng hay chiến bại. Chỉ có đế quốc Mỹ là bị đánh bại mà thôi.’ Vì lời tuyên bố đường mật này mà các quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia đã tự nguyện đi học tập ‘cải tạo’ với số lương thực tự túc là 10 ngày hay một tháng tùy theo cấp bậc, chức vụ.” (3)

Đó là “cú lừa khoan dung, hòa hợp dân tộc” của “bên thắng cuộc”. Còn ngỡ ngàng hơn, khi người tù nhận được câu trả lời sống sượng từ bọn cai tù. Ông Quyền kể:

“Thế rồi một tháng trôi qua, không ai được tha. Khi giải thích sự việc này, bọn cai tù Cộng Sản, dương dương tự đắc nói rằng: ‘Đó là nghệ thuật của cách mạng bắt các anh vào tù chứ làm gì có chuyện trả tự do, sau một tháng giam giữ, cho các con người có nợ máu với nhân dân như các anh. Các anh còn phải cải tạo dài dài.’ Biết mình bị lừa nhiều người đã tự tử. Một số người khác tìm cách trốn trại để rồi cũng bị bắt lại và đánh chết thảm thương như những con vật.” (3)

Không chỉ quân cán chính VNCH mới bị lừa bước vào nhà tù nhỏ, có người chịu đến 17 năm tù, người dân sống trong nhà tù lớn cũng nhận được những “cú lừa” đê hèn của chính quyền cách mạng, như “nên đi kinh tế mới để chồng chị sớm được đoàn tụ với gia đình”. Biết bao nhiêu gia đình cựu sĩ quan quân đội VNCH bị ép buộc, hoặc bị dụ dỗ, mất hết nhà cửa, tiền bạc dành dụm, con cái tứ tán kiếm ăn khắp nơi, cuối cùng vẫn phải quay trở về Sài Gòn sống lây lất ở vỉa hè. Chưa kể những người bỏ xác ở các vùng kinh tế mới.

Câu chuyện về chiếc tàu Việt Nam Thương Tín là kinh nghiệm đau thương cho những người đã đến được bến bờ tự do rồi, nhưng lại quyết định quay về Việt Nam, để chịu cay đắng nhiều năm.

Thương thuyền Việt Nam Thương Tín bắt đầu cuộc hành trình chở người di tản vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, và đến được đảo Guam khoảng nửa tháng sau đó.

Trong thời gian con tàu Thương Tín có mặt ở đảo Guam, một số người Việt tạm cư ở đây lên tiếng muốn trở về với lý do gia đình cùng người thân còn ở Việt Nam, và còn vì các nguyên nhân khác. Nhiều người tuyệt thực biểu tình, yêu cầu nguyện vọng của họ được chính phủ Hoa Kỳ đáp ứng. Mặc dù có rất nhiều lời can ngăn không nên trở về vì sẽ gặp nhiều rủi ro, nhưng cuối cùng khoảng 1600 người, trong đó hơn 100 người đã định cư ở vùng Bắc Mỹ đến Guam để hồi hương. Chính phủ Hoa Kỳ chọn chiếc tàu Việt Nam Thương Tín và chỉ định Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ lái chiếc tàu này trở về Việt Nam.

Sau 2 tuần Việt Nam Thương Tín đã về đến Vũng Tàu an toàn, sau 6 tháng ra đi kể từ 30 Tháng Tư. Thế nhưng số phận của khoảng 1600 người trên tàu, kể cả phụ nữ và trẻ em lại không được an toàn như vậy. Tất cả họ bị đưa vào trại giam. Ông Trần Đình Trụ kể lại:

“Tâm trạng con người ta khi mất tất cả, đất nước mất; gia đình, vợ con, sự nghiệp, nhà cửa, tất cả mất hết thì tôi không tha thiết gì cuộc sống bên Mỹ. Thành ra tôi quyết định về, dù chết cũng về. Về tới Việt Nam thì đương nhiên công an đưa tôi vào trại giam liền. Tôi ở tù 13 năm. Lúc tôi được về thì tương đối cũng không gặp trở ngại gì cả nhưng mọi hoạt động của tôi vẫn có người theo dõi”. (4)

Đây là chuyện để trả lời cho câu của phóng viên báo đảng Cao Minh ca ngợi chính quyền cộng sản chỉ “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Và đối với kẻ thù đã quy hàng thì “Lấy khoan hồng để bụng hiếu sinh.”

Sẽ chẳng bao giờ kể hết những cú lừa của chính quyền cách mạng đối với người dân miền Nam, kể cả Hoa kiều cũng bị tan nát nhà cửa, mất hết tài sản.

Rất ít người nhớ chuyện Cộng sản miền Bắc triệt đường sống của “người anh em miền Nam” là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, tổ chức thay thế Chính phủ VNCH sau 30 Tháng Tư, 1975.

Trở lại năm 1960 tại vùng rừng núi Lộc Ninh, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (Mặt Trận) được một số trí thức miền Nam thành lập, để chống lại chính phủ VNCH. Đây là ý đồ của cộng sản miền Bắc và Cộng sản Quốc tế, trong đó có Trung Cộng và Liên Xô, cho thế giới thấy cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam là chuyện “nội bộ miền Nam”, không liên can đến miền Bắc, càng không liên quan đến cộng sản Quốc tế.

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, khi Sài Gòn sụp đổ, thì lá cờ của quân chiến thắng được kéo lên nóc dinh Tổng Thống ở Sài Gòn là lá cờ nửa đỏ nửa xanh, cờ của Mặt Trận, chứ không phải là cờ đỏ sao vàng của CS miền Bắc.

Sau đó, Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam thay thế Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, cai quản đất nước từ vĩ tuyến 17 vào Nam. Chỉ nửa năm sau đó, vào tháng 11, một hội nghị tên gọi là Hội nghị hiệp thương thống nhất được tổ chức tại Sài Gòn, chuẩn bị cho cuộc bầu cử thống nhất hai miền. Tháng 4 năm 1976, một cuộc bầu cử được Đảng CSVN (lúc đó là Đảng Lao Động) tổ chức thật chặt chẽ, đã loại bỏ hoàn toàn Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ra khỏi đời sống chính trị.

Không biết nhà báo đảng Cao Minh nghĩ thế nào về số phận của những “người anh em vào sinh, ra tử” với đảng suốt 15 năm trên chiến trường miền Nam, mà cũng bị loại bỏ không thương tiếc như thế này?

Tôi không tin Cao Minh nhìn ra vấn đề này, nhưng những người có 50, 60 năm tuổi đảng vẫn bị đảng CSVN ép vào chỗ chết như cụ Lê Đình Kình ở Hà Nội thì Cao Minh không thể không biết.

Đã biết thì đừng viết xàm cho đảng nữa!

 

Phần 2: Hòa hợp dân tộc không thể xây dựng trên sự dối trá

 

Nguồn:

(1) https://realsv.qdnd.vn/chinh-tri/cac-van-de/bai-1-tu-ngon-tay-tren-ban-tay-den-vong-tay-hoa-hop-dan-toc-616359

(2) https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/irregularities-in-the-paris-agreement-and-the-possibility-of-reconvening-05132019121009.html

(3) https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/trai-cai-tao-cua-csvn-sau-nam-1975/

(4) https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-fate-of-pp-on-thuong-tin-ship-after-40-yrs-ha-03162015090743.html