COVID-19 có ‘chừa’ thai phụ và trẻ sơ sinh?

Share:

Phụ nữ mang thai thường đặc biệt dễ bị nhiễm trùng đường hô hấp và sau khi bị nhiễm bệnh có thể bị bệnh nặng, gây hậu quả lâu dài cho cả mẹ và bé. Điều đó có đúng với chủng coronavirus gây bệnh dịch viêm phổi xuất phát từ Vũ Hán không?

Bé ‘không thích’ coronavirus

Khi một sản phụ 32 tuổi tên Wang ở Vũ Hán, Trung Quốc được mổ cấp cứu, mọi người đều cầu nguyện cho cô vì đó là ca đầu tiên người mẹ bị nhiễm coronavirus. Thật tuyệt vời, ‘thiên thần bé nhỏ’ của cô có kết quả âm tính.

Nhân viên y tế bế em bé mới sinh tại Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc. Nguồn: Tân Hoa xã
Nhân viên y tế bế em bé mới sinh tại Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc. Nguồn: Tân Hoa xã

Cuộc chiến chống coronavirus kéo dài trong nhiều tuần lễ. Thời gian đó, tại bệnh viện Zhongnan, Đại học Vũ Hán, đã có 60 sản phụ nhiễm bệnh hoặc nghi nhiễm coronavirus sinh con. Rất may, không có trẻ sơ sinh nào dương tính với coronavirus.

Theo một nghiên cứu trên chín phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh, vừa được công bố vào tháng trước trên tờ The Lancet, trẻ sơ sinh được sinh ra từ những phụ nữ bị nhiễm coronavirus có kết quả âm tính và các bé đều khỏe mạnh.

Cả chín thai phụ đều có sức khỏe tốt trước khi mang thai nhưng nhập viện vì viêm phổi trong khoảng từ tuần 36 đến tuần 39 + 4 ngày mang thai và có xét nghiệm dương tính với coronavirus  cùng các triệu chứng khác, nhưng không phải thở máy.

Tất cả chín thai nhi được sinh mổ, mẹ và bé đều không xuất hiện biến chứng nghiêm trọng. Xét nghiệm cho thấy không có coronavirus  trong nước ối, máu dây rốn, sữa mẹ và dịch phết họng trẻ sơ sinh được lấy mẫu.

Mặc dù có số mẫu khá nhỏ là chín trường hợp, nghiên cứu này gợi ý rằng cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có bằng chứng coronavirus truyền từ mẹ sang thai nhi. Đáng lưu ý là mặc dù hệ gene của coronavirus  và SARS giống nhau tới 86%, các nghiên cứu trước đây cho thấy thai phụ nhiễm SARS có tỷ lệ biến chứng cao, như sảy thai tự nhiên, sinh non và giảm tăng trưởng trong tử cung. Những biến chứng này không xảy ra với cả chín thai phụ bị nhiễm coronavirus  trong nghiên cứu. Tóm lại, bằng chứng từ các trận dịch virus corona bao gồm coronavirus , SARS và MERS  cho thấy trẻ dường như không nhiễm virus corona từ mẹ.

Quá sớm để lạc quan

Tuy vậy, Tiến sĩ Wei Zhang, chuyên gia về dịch tễ học tại Northwestern University và là một trong những tác giả nghiên cứu của Lancet cho biết, vẫn còn quá sớm để nhận biết hậu quả đối với những phụ nữ mang thai bị nhiễm coronavirus chuẩn bị sinh con. Bác sĩ Zhang cũng lưu ý rằng vì nghiên cứu này rất nhỏ, nó không cung cấp bất kỳ ‘manh mối’ nào về ảnh hưởng của bệnh nhiễm trùng đối với phụ nữ trong giai đoạn đầu của thai kỳ.

Chưa có cơ sở kết luận coronavirus lây truyền từ mẹ sang con. Hình minh họa. Nguồn: Chinadaily.
Chưa có cơ sở kết luận coronavirus lây truyền từ mẹ sang con. Hình minh họa. Nguồn: Chinadaily.

Sốt trong thai kỳ sớm có liên quan đến dị tật bẩm sinh. Một số loại virus có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi. Ví dụ thai nhi bị nhiễm Zika có thể thể bị đầu nhỏ bất thường, hay Ebola có thể gây chết người.

Đại dịch cúm năm 1918 và 1957 có tỷ lệ tử vong từ 30 đến 50% ở phụ nữ mang thai. Xu hướng ở phụ nữ mang thai bị nhiễm SARS, họ hàng gần nhất của coronavirus, khiến mọi người không hề yên tâm. Trong một nghiên cứu nhỏ về 12 phụ nữ mang thai ở Hong Kong đã phát triển trong đợt bùng phát SARS năm 2003, có ba người chết và bốn thai phụ bị sẩy thai tự nhiên trong trong ba tháng đầu.

Các số liệu thống kê của WHO về các coronavirus và nghiên cứu của Tiến sĩ Zhang, cả hai đều đưa ra lý do cho sự lạc quan, nhưng dữ liệu từ những con số lớn hơn mới là quan trọng, các chuyên gia cho biết.

‘Sàng lọc’ trước cuộc hẹn

Theo Tiến sĩ Denise Jamieson, chủ tịch khoa Sản Phụ, Đại học Emory cho biết, trước tình hình nạn dịch lan rộng và tăng từng giờ như thế này, sẽ có rất nhiều phụ nữ mang thai bị nhiễm coronavirus, vì thế các hệ thống giám sát, thu thập thông tin về tình trạng phụ nữ mang thai rất quan trọng.

Tiến sĩ Jamieson là một trong ba chuyên gia đã lập ra hướng dẫn và điều trị cho phụ nữ mang thai bị nhiễm coronavirus. Một trong những ứng dụng tốt nhất mà các bác sĩ phải làm là sàng lọc phụ nữ mang thai ngay trước cuộc hẹn – để nếu thai phụ nào có biểu hiện bị nhiễm coronavirus sẽ chờ ở một khu vực riêng biệt với các bệnh nhân khác. Những bà mẹ tương lai này cũng cần ghi rõ ‘lộ trình’ rất cụ thể của mình trước khi có triệu chứng mang bệnh.

Thu thập thông tin về tình trạng phụ nữ mang thai rất quan trọng. Hình minh họa.
Thu thập thông tin về tình trạng phụ nữ mang thai rất quan trọng. Hình minh họa.

Về phần mình, phụ nữ mang thai nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa giống như mọi người, nhưng hãy cho bác sĩ của họ biết ngay, nếu họ gặp bất kỳ triệu chứng nào, Tiến sĩ Jamieson nói.

Bác sĩ Jamieson có ở Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) tại thời điểm xảy ra đại dịch cúm H1N1 năm 2009. Khi đó, hơn 30% phụ nữ mang thai bị nhiễm virus phải nhập viện. CDC khuyến nghị, sau khi sinh em bé, các bà mẹ phải được cách ly. Nếu cho con bú, chỉ có thể vắt sữa cho đến khi hết bệnh thì mới cho con bú trở lại.

Nếu có sự cách ly một cách nghiêm ngặt, sẽ có cơ hội tốt để có một đứa con khỏe mạnh, tiến sĩ Zhang Mitch – bác sĩ tư vấn cho The Lancet nói.

Vaccine cho thai phụ

Nếu phụ nữ ở giai đoạn đầu của thai kỳ có nguy cơ mắc bệnh, họ sẽ là những người ưu tiên hàng để được chính vaccine. Thử nghiệm đầu tiên cho vaccine dự kiến sẽ bắt đầu vào cuối tháng này, nhưng không bao gồm phụ nữ đang mang thai.

Loại trừ này là thích hợp, theo Tiến sĩ Ruth Karron, chuyên gia về dịch tễ học thuộc Đại học Johns Hopkins. Bà nói: “Muốn chích vaccine cho thai phụ, trước tiên các nhà khoa học phải cân bằng giữa rủi ro và lợi ích. Trong trường hợp này, cả hai đều không rõ. Các nhà nghiên cứu sẽ cần biết bản chất và tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ mang thai, cũng như bất kỳ tác dụng phụ nguy hiểm tiềm tàng nào từ vaccine, chẳng hạn như sốt.

Cho đến thời điểm này, có thể tạm, yên tâm phần nào về nguy cơ lây coronavirus cho thai nhi. Nhưng phụ nữ mang thai rất dễ nhiễm mầm bệnh qua đường hô hấp, tất nhiên không loại trừ coronavirus , và phát triển bệnh viêm phổi nặng hơn so với người bình thường, vì thế, phụ nữ mang thai cần được coi là nhóm có nguy cơ chính trong các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát nhiễm coronavirus .

Đ.T (Theo New York Post, The Lancet)

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: