Little Saigon

Trung Quốc và Mỹ chạy đua vũ trang hủy diệt lẫn nhau… 

Minxin Pei (Bùi Mẫn Hân) (*) - Hiếu Chân dịch

Hãy phục hồi sự ổn định chiến lược ở Đông Á trước khi quá muộn

(*) Ông Bùi Mẫn Hân là giáo sư khoa chính quyền, đại học Claremont McKenna College ở California, và thành viên cao cấp không thường trực của Quỹ German Marshall Fund của Hoa Kỳ.

Nền tảng của sự ổn định chiến lược ở Đông Á đang sụp đổ. Khi Hoa Kỳ và Trung Quốc tăng cường cạnh tranh về thương mại, công nghệ và an ninh thì các yếu tố trước đây làm nền tảng cho sự ổn định chiến lược và tạo nên thành công kinh tế của khu vực đã bị xói mòn đáng kể hoặc trở thành động lực chính gây bất ổn.

Sự ổn định chiến lược – được đánh dấu chủ yếu bởi mối quan hệ hợp tác giữa các cường quốc, sự đánh giá các mối đe dọa và cuộc cạnh tranh tiềm ẩn để giành ưu thế quân sự – đã chiếm ưu thế ở Đông Á trong hầu hết thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh.

Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự may mắn phi thường của Đông Á kể từ khi Bức tường Berlin sụp đổ là sự kết giao chứ không phải đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc. Bất chấp những căng thẳng đôi khi xảy ra, Washington và Bắc Kinh đã thành công trong việc thúc đẩy hợp tác và xử lý những sự khác biệt của họ. Về mặt kinh tế, công cuộc hội nhập kinh tế khu vực do Hoa Kỳ khuyến khích đã khích lệ sự kiềm chế trong chính sách đối ngoại, ngăn chặn các vụ tranh chấp lâu đời về biển và lãnh thổ.

Các chỉ huy Hoa Kỳ, Nhật, Pháp và Úc chào cờ khai mạc cuộc tập trận Jeanne D’Arc 21 của đại diện quân đội bốn nước tại Nhật Bản ngày 11-05 vừa qua. Ảnh US Marine Corps Photo

Về mặt an ninh, hệ thống liên minh và việc bố trí lực lượng tiền phương của Hoa Kỳ đã giúp duy trì sự cân bằng sức mạnh quân sự của khu vực. Mặc dù Trung Quốc coi tư thế an ninh này của Mỹ là tàn dư của Chiến tranh Lạnh và thù địch với lợi ích an ninh của nước này nhưng Trung Quốc vẫn chấp nhận sự hiện diện an ninh của Mỹ vì họ vừa được hưởng lợi từ sự ổn định mà nó tạo ra, vừa không có khả năng thách thức nó.

Ngày nay, chỉ một vài trong số những trụ cột ổn định này còn đứng vững. Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện đang trong một cuộc xung đột địa chính trị chưa biết sẽ đến đâu. Cả hai đều coi nhau là một mối đe dọa địa chính trị hiện hữu.

Công cuộc hội nhập kinh tế do Hoa Kỳ dẫn đầu bị đình trệ sau khi Donald Trump rút khỏi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Những cuộc chiến thương mại và công nghệ đang diễn ra gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc đe dọa chia cắt các dòng chảy thương mại, đầu tư và công nghệ của Đông Á bởi vì Washington coi việc tách rời (decoupling) như một công cụ làm suy yếu sức mạnh của Trung Quốc. Trung Quốc cũng có một phiên bản tách rời riêng của họ – giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường và công nghệ của Hoa Kỳ – sẽ đẩy nhanh hơn nữa tiến trình phân mảnh, chia cắt.

Chắc chắn là Bắc Kinh đang cố gắng kết nối một khối thương mại riêng thông qua Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) không bao gồm Mỹ. Nhưng chiến lược đó ít có khả năng thành công sau sự thoái hóa nhanh chóng mối quan hệ giữa hai thành viên lớn nhất của RCEP là Trung Quốc và Nhật Bản; Tokyo xem ra đang đứng về phía Mỹ trong cuộc đấu tay đôi với Trung Quốc.

Nhìn lại, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm phần lớn trong việc phá hủy nền tảng ổn định chiến lược của khu vực Đông Á. Sự trỗi dậy của Trung Quốc, đi kèm với việc nhanh chóng xây dựng quân đội, việc nước này quay sang chủ nghĩa độc tài cứng rắn ở trong nước và chính sách đối ngoại hiếu chiến ở nước ngoài đã làm thay đổi căn bản sự đánh giá về mối đe dọa của các quốc gia chủ chốt trong khu vực.

Nhìn lại, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm phần lớn trong việc phá hủy nền tảng ổn định chiến lược của khu vực Đông Á.

Sự thay đổi trong nhận thức về mối đe dọa chắc chắn buộc hai tác nhân chi phối ở Đông Á là Mỹ và Trung Quốc phải đánh giá lại mức độ đầy đủ của các năng lực quân sự của họ. Trong tất cả các yếu tố thúc đẩy sự bất ổn chiến lược trong khu vực, chính việc đánh giá lại này đã tạo ra động lực nguy hiểm nhất.

Theo quan điểm của Bắc Kinh, hệ thống đồng minh và việc bố trí lực lượng tiền phương của Mỹ hiện đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng và không dung thứ được đối với an ninh của Trung Quốc. Mặc dù Trung Quốc đã hiện đại hóa quân đội từ giữa những năm 1990 để ngăn chặn Mỹ can thiệp vào một cuộc xung đột tương lai ở eo biển Đài Loan, nhưng đà suy thoái nhanh chóng của quan hệ Mỹ-Trung từ gắn kết trở thành xung đột trong hai năm qua đã làm gia tăng sự khẩn cấp và quyết tâm của Bắc Kinh tiếp tục thu hẹp khoảng cách về năng lực quân sự với Hoa Kỳ.

Đối với Hoa Kỳ, đã cảnh báo rằng những tiến bộ của Trung Quốc đang làm xói mòn lợi thế quân sự của Mỹ, phản ứng hợp lý duy nhất là thực hiện các hành động để duy trì lợi thế của mình. Sáng kiến ​​Ngăn chặn Thái Bình Dương (Pacific Deterrence Initiative) của Ngũ Giác Đài – một kế hoạch sáu năm trị giá 27 tỷ USD – rõ ràng tập trung vào việc đối phó với mối đe dọa quân sự của Trung Quốc. Nó gần như chắc chắn là biện pháp đầu tiên trong số nhiều biện pháp tương tự sẽ được áp dụng.

Do hệ thống chính trị bí mật của Trung Quốc, chúng ta không biết liệu Chủ tịch Tập Cận Bình và các đồng sự của ông ta có phản ứng như thế nào với Sáng kiến Ngăn chặn Thái Bình Dương, nhưng có nhiều khả năng là Bắc Kinh sẽ coi đây là sự leo thang mức độ đe dọa và sẽ phản ứng lại tương xứng.

Ở đây chúng ta có một vòng luẩn quẩn cổ điển. Đáng buồn thay, tất cả các dấu hiệu đều cho thấy cuộc chạy đua vũ trang này sẽ leo thang và làm cho khu vực Đông Á trở nên kém an ninh và tồi tệ hơn.

Logic của sự ngăn chặn chỉ ra rằng Hoa Kỳ sẽ duy trì lợi thế đáng kể về phẩm chất đối với Trung Quốc và sẽ thắng thế một cách dứt khoát trong một cuộc xung đột tiềm tàng. Nhưng logic chiến lược thúc đẩy chính sách an ninh của Trung Quốc đòi hỏi quân đội của họ không để bị thua trong một cuộc xung đột như vậy nếu nó xảy ra.

Một trong những bài học của Chiến tranh Lạnh là các cuộc chạy đua vũ trang đều nguy hiểm và cuối cùng đều vô ích.

Hiện tại, bởi vì Hoa Kỳ và Trung Quốc đều ưu tiên cho sức mạnh quân sự trong cuộc cạnh tranh của họ, chúng ta nên mong đợi một cuộc chạy đua vũ trang kéo dài và sự bất ổn chiến lược ở Đông Á sẽ ngày càng gia tăng.

Một trong những bài học của Chiến tranh Lạnh là các cuộc chạy đua vũ trang đều nguy hiểm và cuối cùng đều vô ích. Lợi thế thu được thông qua việc phát triển nhiều vũ khí sát thương hơn có xu hướng chỉ là tạm thời, trong khi sự tự tin được tạo ra bởi ưu thế quân sự thường làm gia tăng ham muốn rủi ro và dẫn đến các hành vi hung hăng hơn. Đáng buồn thay, Liên Xô và Hoa Kỳ chỉ bắt đầu hiểu điều này sau khi họ tránh được trong đường tơ kẽ tóc một vụ trao đổi hạt nhân trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba và sau đó lãng phí hàng nghìn tỷ đô la vào học thuyết cùng nhau hủy diệt, hay còn gọi là MAD (mutually assured destruction).

Câu hỏi hiện nay là liệu các nhà lãnh đạo ở Washington và Bắc Kinh có đủ khôn ngoan để bắt đầu tham gia vào việc kiểm soát vũ khí, xây dựng lòng tin và ngoại giao trước khi quá muộn hay không. Nếu họ vẫn tiếp tục ưu tiên cạnh tranh quân sự, thì thảm họa chứ không phải chiến thắng cho bên nào mới là kết quả cuối cùng.

(theo Asia Nikkei Review)

Đọc thêm: