Nước Mỹ chia rẽ, vì sao?

Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp

Hố ngăn cách về chính trị, văn hóa và kinh tế được gia cường giữa nỗi lo âu sinh ra từ cuộc khủng hoảng tài chính và cuộc tranh luận sâu rộng về các giá trị Mỹ.

GERALD F. SEIB, Wall Street Journal 17-12-2019 (Hiếu Chân dịch)

Tháng 1-2010, Tổng thống Barack Obama bước vào hội trường Hạ viện để đọc bản Thông điệp Liên bang và tuyên bố: “Một thập kỷ mới mở rộng trước mặt chúng ta.”

Ông Obama thừa nhận người dân Mỹ đang thất vọng, tức giận, nhất là sau một cuộc khủng hoảng tài chính gây bầm dập, và mệt mỏi vì những cuộc cãi vã chính trị diễn ra chung quanh họ. Rồi ông đưa ra một nhận xét lạc quan hơn: “Trong thập kỷ mới, đã đến lúc nhân dân Mỹ phải có được một chính quyền công chính, thể hiện sức mạnh của họ”.

Giờ đây thập kỷ đó sắp kết thúc, không nhiều người Mỹ nói rằng chính quyền của họ, rộng hơn là xã hội chung quanh họ, đã thực hiện được tầm nhìn cao xa ấy. Thay vì vậy, sự chia rẽ cả trong xã hội lẫn trong hệ thống chính trị Mỹ đã giãn rộng ra và kiên cố thêm. Thập kỷ vừa qua đã sinh ra một sự trỗi dậy song hành: ở cánh hữu là cái tình cảm quốc gia chủ nghĩa và dân túy chủ nghĩa; bên cánh tả là tình cảm xã hội chủ nghĩa, khiến cho tầng lớp chính trị xã hội trung dung trở nên trơ trọi hơn bất cứ thời điểm nào.

Một cuộc nổi loạn nhỏ của đảng Trà diễn ra lúc ông Obama phát biểu đã góp phần mở đường cho Tổng thống Trump chiếm lĩnh đảng Cộng hòa; ông Trump đưa ra một thông điệp khác xa và dân túy hơn rất nhiều so với các chính trị gia Cộng hòa trước ông ta. Trong khi đó, một bộ phận quan trọng của đảng Dân chủ đã chuyển từ chủ nghĩa tự do ôn hòa của ông Obama sang một lập trường cấp tiến hơn rất nhiều, theo các Thượng nghị sĩ Bernie Sander và Elizabeth Warren và Dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez.

Điều gì đã xảy ra? Một phần câu trả lời nằm trong nỗi lo âu về kinh tế sinh ra từ cuộc khủng hoảng tài chính để lại nhiều vết sẹo hằn sâu hơn là người ta nghĩ lúc đầu.

Cuộc suy thoái không chỉ gây đau đớn cho phần lớn đất nước. Với cả cánh tả và cánh hữu, nó sinh ra một nỗi hoài nghi mới rằng liệu các định chế chính trị và tài chính của đất nước có thực sự quan tâm tới việc điều hành công việc quốc gia theo lợi ích của mọi người hay không. Hơn thế nữa, nhiều người Mỹ bình thường kết luận rằng, phản ứng của chính quyền đối với cuộc khủng hoảng là không đủ so với nỗi đau khổ mà nó gây ra.

Oren Cass – một học giả theo quan điểm bảo thủ ở Viện Manhattan và là giám đốc chính sách đối nội trong chiến dịch tranh cử tổng thống của ứng cử viên Mitt Romney năm 2012 – nhận xét: “Quan điểm của cánh tả là những gì ông Obama làm là không đủ so với yêu cầu của thời điểm đó. Và những gì chúng ta thấy bên cánh hữu hầu như là một phản ứng song song: thông điệp tăng trưởng về phát triển nguồn cung, niềm tin chính thống của cánh hữu, cũng không đạt so với thời điểm đó.”

Những người cánh tả tự do cho rằng, chính phủ cần phải thực hiện một chương trình phục hồi kinh tế lớn lao hơn, và các nhà tư bản gây ra nỗi đau khổ cần phải bị truy cứu trách nhiệm. Quan điểm đó đã mở cánh cửa để những chính trị gia Dân chủ có khuynh hướng cấp tiến như các Thượng nghị sĩ Sanders và Warren thuyết phục các đảng viên Dân chủ bằng cách nói về những chương trình chính phủ có tham vọng lớn lao hơn mà trước đây các ứng cử viên ít dám đề cập tới. Ruy Teixeira, nhà nghiên cứu cao cấp ở Trung tâm vì Sự Tiến bộ Mỹ, nhận xét: “Đó là điều thay đổi sâu sắc nhất. Những người Dân chủ đã có thể nói về sự thay đổi lớn, thay đổi cơ cấu.”

Chấn thương tinh thần đã biến một số người thuộc đa số của cả hai đảng chống lại công cuộc toàn cầu hóa kinh tế và cộng đồng tài chính – nhất là khi sự xáo trộn kinh tế ở Mỹ lại trùng khớp với sự trỗi dậy đáng lo ngại của Trung Quốc như là một cường quốc kinh tế cạnh tranh. Các nhà quản trị doanh nghiệp thường nhận thấy mình bị mắc kẹt ở giữa, bị cánh tả tấn công vì quy mô của những món lợi tức mà họ làm ra, đồng thời bị cánh hữu tấn công vì đã không đầu tư số lợi nhuận đó đủ để tạo ra công ăn việc làm cho người Mỹ.

Một số mầm mống của sự chia rẽ hiện thời thực ra đã được gieo xuống ở nước ngoài, và trong những năm tháng trước khi thập kỷ này bắt đầu. Vào năm 2010, nước Mỹ đã lâm vào cuộc chiến tranh ở Afghanistan hơn tám năm, ở Iraq gần bảy năm; chi phí về sinh mệnh và tài sản đã khiến cho rất nhiều người Mỹ vỡ mộng.

Kết quả là nỗi buồn chiến tranh làm sâu sắc thêm nỗi hoài nghi về tầng lớp tinh hoa – những người đã bênh vực cho các cuộc xung đột ấy. Điều đó giúp mở ra con đường để ông Trump giành được sự đề cử của đảng Cộng hòa – đảng mà các nhà lãnh đạo đã khơi mào, và phần lớn, đã ngoan cố bảo vệ những cuộc xung đột dài lâu ấy.

William Galston, người đã viết một cuốn sách về sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy, nói: “Tôi nhớ mình đã ngạc nhiên tới mức nào trước cách ông ấy [Trump] xoay xở chống lại cuộc chiến tranh Iraq. Tôi nghĩ, điều đó thêm sức mạnh cho ông ấy nhờ nhận được ủng hộ từ những người dân bình thường, kể cả các cựu chiến binh – những người nghĩ rằng ông ấy đang nói lên sự thật mà các chính trị gia lẫn các tướng lãnh đều không hề nói tới.”

Nhưng phần lớn câu trả lời nằm ở những áp lực văn hóa rộng lớn hơn được xây dựng chung quanh hệ thống chính trị. Nhiều người dân ở vùng trung tâm đất nước, phần lớn có xu hướng bảo thủ, đã nổi loạn chống lại cái mà họ coi là cuộc hủy diệt dần dần các giá trị truyền thống và cơ cấu xã hội Mỹ. Trong khi đó những người đối nghịch với họ ở hai bờ biển, có khuynh hướng tự do hơn, đã vận động ngày càng mạnh mẽ cho những gì mà họ coi là sự bình đẳng về kinh tế, chủng tộc và giới tính lẽ ra phải có từ lâu.

Trong thời gian đó, những mối căng thẳng về văn hóa trỗi dậy, lại bị làm trầm trọng thêm bởi những cuộc tranh luận lớn về quan hệ sắc tộc và di dân. Khi thập kỷ này sắp trôi qua, đất nước cũng vừa hoàn tất một giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng về số lượng dân số là người di cư không có giấy tờ, tăng khoảng 30% so với mười năm trước. Làn sóng đó đã làm biến đổi bộ mặt của các cộng đồng ở những nơi chưa từng quen với sự thay đổi như vậy, và đánh mạnh vào ngay lực lượng lao động hiện hữu vốn đang đối mặt với một sự suy giảm công ăn việc làm ổn định và lâu dài trong các ngành công nghiệp truyền thống.

 

Tất cả những chuyện đó đã khuấy động cái tình cảm chống người nhập cư của cánh hữu, người nhập cư bị quy tội gây ra nỗi bất an về văn hóa và kinh tế, rồi đến lượt nó tình cảm này lại gây phản ứng ngược từ phía cánh tả, khi nhiều người tin rằng mối ác cảm với người nhập cư chỉ làm nổi lên bề mặt cái dòng chảy ngầm của tình cảm phân biệt chủng tộc ở đất nước này.

Những quan điểm phân cực sâu sắc của hai vị tổng thống trong thập kỷ vừa qua chỉ làm gia tăng căng thẳng. Sự kiện ông Obama được bầu làm vị tổng thống người Mỹ gốc Phi châu đầu tiên của đất nước, một người có tư tưởng cấp tiến, đã thúc đẩy công cuộc cải cách sâu rộng hệ thống chăm sóc y tế, đã khích lệ những người cánh tả. Nhưng ông Obama cũng gây phẫn nộ trong những người cánh hữu – những người nghĩ rằng các chính sách của ông ta thiên về phía tả so với những tuyên bố hùng hồn mang tính ôn hòa của ông; và người dân miền đất trung tâm đất nước thì cho rằng ông đã coi nhẹ những giá trị của họ khi ông đưa ra một lời bình luận nổi tiếng khi vận động tái tranh cử rằng sự sa sút về kinh tế của vùng Rush Belt đã lôi kéo người dân ở đó tới việc “đeo bám lấy súng, tôn giáo và nỗi ác cảm với những người không giống như họ.”

Sự xuất hiện của ông Trump khích lệ những người cánh hữu dân túy, những người nghĩ rằng cuối cùng họ đã có được một vị tổng thống hiểu được những mối bất bình của họ, nhưng lại gây phẫn nộ cho những người nghĩ rằng ông ta đã xé nát những quy tắc chính trị xã hội, sử dụng nỗi căm giận và sự chia rẽ làm công cụ chính trị cho lợi ích riêng của ông ta. Vào cuối thập kỷ, có một mức độ chia rẽ chính trị chưa từng thấy trước đây về ông Trump, với chưa tới 10% những người Dân chủ tán thành thành tích làm việc của ông trong khi có tới 90% những người Cộng hòa tán thành.

Những gì nước Mỹ đã trải qua trên những mặt trận này không phải là đơn lẻ. Từ Anh Quốc tới Italy tới Hungary tới Ba Lan, sự xáo trộn kinh tế và văn hóa tương tự cũng đã sản sinh ra những phong trào tương tự hướng tới chủ nghĩa dân túy. Tiến vào thập kỷ mới, câu hỏi lớn là liệu những sự chia rẽ sinh ra từ đó có sẽ tiếp tục gay gắt như hôm nay hay không.

Sau khi Hạ viện bỏ phiếu quyết định luận tội ông Donald Trump, công luận Mỹ chia rẽ sâu sắc chung quanh vấn đề có nên phế truất tổng thống hay không. Kết quả thăm dò ý kiến do trang The Hill công bố sáng thứ Hai 23-12-2019 cho thấy 49% số người được hỏi “tán thành” (approve) thành tích làm việc của ông Trump, tăng 3% so với cuộc khảo sát hồi đầu tháng, 51% phản đối, giảm 3% so với trước. Cuộc thăm dò được tiến hành ngày 8 và 9-12, trước khi Hạ viện bỏ phiếu luận tội nhưng sau các cuộc điều trần công khai về hành vi của Tổng thống Trump. Một cuộc thăm dò khác do báo Politico tiến hành sau cuộc bỏ phiếu luận tội của Hạ viện ghi nhận 52% số người được hỏi tán thành quyết định của Hạ viện, 43% không tán thành và 5% không có ý kiến.

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: