Hành trình hoảng loạn của những người Mỹ di tản khỏi Vũ Hán

Share:
Chiếc máy bay của hãng Kalitta chở hơn 200 công dân Mỹ di tản từ Vũ Hán đáp xuống căn cứ quân sự ở quận Riverside, Nam California. Ảnh Reuters.

NGUYỄN HÒA

Bà Hứa Ninh Hy, từ Tiểu bang New Jersey, là một trong những người Mỹ còn kẹt lại Vũ Hán, thành phố bị phong tỏa đã ba tuần để đối phó với dịch phổi đầy chết chóc.

Bà Hứa có tên trong danh sách hành khách của chuyến bay di tản từ Vũ Hán, đến California vào hôm thứ Tư 5-2-2020, nhưng khi còn ở Vũ Hán, bà cũng không biết chắc rằng mình có thể lên được chuyến bay may mắn đó. Sau 16 giờ căng thẳng, với bao nhiêu lộn xộn, giấy tờ rắc rối, tại phi trường trong âm thanh trẻ con kêu khóc, người lớn lo âu, cuối cùng bà Hứa, đeo trên cổ tay một dảy băng màu xanh để đánh dấu hành khách, cũng lên được máy bay, với số thứ tự 199, trong hơn 300 hành khách trên hai chiếc máy bay di tản.

Hai chiếc máy bay này nằm trong kế hoạch di tản thứ hai của Bộ Ngoại giao Mỹ đưa công dân mình ra khỏi Vũ Hán. Chiếc máy bay di tản đầu tiên vào ngày 28-1-2020 đã đưa các nhân viên ngoại giao và gia đình họ về Mỹ, và họ vẫn đang chịu cách ly tầm soát bệnh dịch tại một căn cứ không quân miền Nam California.

Hai chiếc máy bay trong đợt di tản thứ hai đáp tại căn cứ không quân Travis, gần Sacramento, Thủ phủ Tiểu bang California. 178 người ở lại căn cứ này và bị cách ly trong vòng 14 ngày. Bà Hứa cùng khoảng 170 người khác lại bay tiếp về căn cứ Miramar, gần San Diego, nơi đây họ cũng chịu 14 ngày cách ly và tầm soát bệnh dịch.

Các hành khách nói rằng không ai thích thú chuyện kéo dài ngày cách ly như thế sau thời gian bị phong tỏa ở Vũ Hán, nhưng biết làm sao được.

Bà Hứa nói là đa số cảm thấy mừng khi thoát khỏi Vũ Hán, chuyến đi đầy trẻ con và cả ông bà nội ngoại nữa.

Bà Leonhard, một giáo sư luật từ New Orleans hiện đang bị cách ly ở căn cứ Travis nói là trong thời gian qua, bà không nghĩ tới chuyện gì khác ngoài chuyện thoát khỏi Vũ Hán và về Mỹ.

Trên hai chiếc máy bay đều có người bệnh. Bà Leonhard kể là trên chiếc của bà, có một em bé bị sốt và phải chịu cách ly bằng những tấm màn nylon ở cuối chiếc máy bay. Bà Hứa cũng thấy một hành khách bị tương tự trên chiếc máy bay của bà, và người này không có mặt trên chuyến bay đưa bà Hứa đến căn cứ Miramar.

Các nhân viên y tế chịu trách nhiệm vụ di tản này thì mặc đồ bảo hộ kín mít, đi tới đi lui trên máy bay, đo thân nhiệt hành khách hai lần trong 12 giờ đồng hồ ở trên trời, rồi lại đo khi họ rời máy bay, lại đo khi họ lên máy bay về San Diego.

Bà Hứa kể là lúc trên máy bay, bà bị sốt và chạy đi tìm nhân viên y tế, thế là những hành khách khác co cụm lại tránh xa bà. Cuối cùng thì thân nhiệt của bà cũng không nằm trong giới hạn bị cho là nhiễm bệnh, và được cho phép vào khách sạn trong căn cứ.

Bác sĩ Henry Walke, của Trung tâm phòng chống dịch bệnh (CDC), chịu trách nhiệm chăm sóc y tế những người di tản tại căn cứ Travis nói là khi các hành khách bước ra khỏi máy bay, nhân viên chính phủ đón họ nồng nhiệt, hoan hô họ đã thoát hiểm, vơi đi nỗi lo.

Đây là chương trình cách ly và tầm soát dịch bệnh đầu tiên của CDC sau hơn 50 năm. Mỗi gia đình có phòng riêng, nhưng được bảo là phải tránh xa các gia đình khác, còn trẻ em thì được bảo là không có đổi đồ chơi với nhau. Bác sĩ Walke nói là một mặt CDC muốn các gia đình không tiếp xúc với nhau, nhưng mặt khác lại không cản trở họ ra ngoài phòng, thành ra rất là khó để cân bằng hai việc đó với nhau.

Một bác sĩ khác cũng của CDC là ông Christopher Braden nói với báo chí ở Miramar, San Diego, rằng kế hoạch di tản thay đổi liên tục, không phải hàng ngày mà là hàng giờ.

Sau chuyến bay di tản các gia đình ngoại giao Mỹ ở Vũ Hán, những công dân Mỹ còn lại phải tự xoay xở tìm chỗ trên chuyến bay, rồi tìm cách vượt qua bao nhiêu chốt canh của một thành phố đang bị phong tỏa, để ra phi trường, trong một tình trạng rất là mù mờ.

Đối với gia đình ông Ken Burnett ở San Diego thì chuyến di tản này không những chấm dứt một tháng lo âu, mà còn là sự xui xẻo năm mới nữa, vì đáng ra gia đình ông sẽ gặp nhau ở Hong Kong, sau khi vợ ông và hai con nhỏ thăm ngoại của chúng ở Vũ Hán trong dịp Tết nguyên đán. Trong những ngày bị phong tỏa ở Vũ Hán, ba mẹ con phải sống trong tầng hầm của nhà ngoại. Bà ngoại phải liều đi ra ngoài tìm thức ăn về cho các cháu và con gái.

Ông Burnett nói tinh thần ông còn tệ hơn, vì ông ở San Diego mà không làm gì được cho gia đình cả. Vợ ông và hai con lẽ ra được di tản vào hôm thứ Bảy, nhưng chuyến di tản đó bị hủy, dời đến thứ Tư. Từ nhà bà và các con phải đi qua bao nhiêu chốt kiểm soát của cảnh sát để đến phi trường, rồi phải hỏi thăm thông tin từ các hành khách khác, các nhân viên y tế.

Bà Leonhard và một người Mỹ khác thì phải chạy xe đến bốn giờ đồng hồ từ một thành phố ngoại ô Vũ Hán. Họ kể là trên đường cao tốc, họ là chiếc xe hơi chở người duy nhất, ngoài ra toàn là xe tải chở vật phẩm cung cấp cho thành phố bị phong tỏa. Đường xá trống rỗng như có ma. Họ đến sân bay sớm đến hơn 12 tiếng để không bị lỡ chuyến bay.

Không có viên chức Mỹ nào có mặt ở sân bay để hướng dẫn cả. Những người di tản liên lạc nhau bằng mạng WeChat, hay là cứ đi theo lời đồn từ chỗ này đến chỗ kia để tìm cách đến máy bay. Rồi còn chuyện những cái tên kiểu Trung Quốc nữa chứ, đôi khi một gia đình bị chia ra làm hai vì trẻ con có khi không mang trùng họ với bố, hay mẹ chúng.

Bà Leonhard nói: Thực sự là một sự hỗn loạn. Tòa Đại sứ không có người để quản lý đám đông di tản, mà có lẽ họ cũng không nghĩ tới việc đó.

Bà Hứa thì nói, chẳng ai muốn nói chuyện với người lạ cả, vì người ta sợ bị lây bệnh. Bà nói bà rất mệt mỏi và bà nghĩ là khi còn ở đó (Vũ Hán) thì ở ngoài đường còn an toàn hơn, vì ở đó (sân bay) cả trăm người đứng ngồi sát bên nhau.

Cuối cùng thì họ cũng được lên máy bay, làm… “khách” của Chính phủ Mỹ, được theo dõi thân nhiệt, ai bệnh thì vô bệnh viện.

Ông Burnett nói: 14 ngày thì dài nhưng chắc chắn sẽ dễ chịu hơn là 14 ngày vừa qua.

Hiện nay tất cả các chuyến bay giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đều bị dừng lại. Người ta cho rằng lượng du khách từ Trung Quốc đến Mỹ sẽ giảm đến 28% trong năm nay, ảnh hưởng lớn đến ngành du lịch của Mỹ, nhất là hai khu vực California và New York là hai nơi có đến 20% du khách là người đến từ Trung Quốc. Mỹ là điểm đến ưa thích của du khách Trung Quốc. Từ năm 2002 đến nay lượng khách Trung Quốc vào Mỹ tăng đến 13 lần. Năm 2019 có đến 2.800.000 du khách Trung Quốc đến Mỹ. Ngay trước khi dịch bệnh bùng phát, người ta dự đoán có đến 175.000 du khách Trung Quốc đến Mỹ trong khoảng thời gian trước và sau Tết nguyên đán. Người ta dự trù lượng du khách từ Trung Quốc sẽ tăng trở lại vào cuối năm 2020, nhưng cần một thời gian dài để phục hồi như xưa (Washington Post, 5-2-2020).

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: