Bụi

Share:

Song Thao

Ông cha này là bụi thứ thiệt! Đó là cha Claude Paradis của Montreal chúng tôi. Nhiều năm trước, chàng thanh niên tỉnh lẻ Paradis cảm thấy lạc lõng khi tới một nơi đô hội như Montreal. Không người thân, không việc làm, chàng đành ngủ bờ ngủ bụi. Rồi lậm vào đủ thứ tệ nạn, từ rượu chè be bét tới chơi ma túy và nhiều thứ lăng nhăng khác. Ba lần tự tử, ba lần đều được cứu sống, chàng thấy cuộc đời vô nghĩa. Một buổi tối, khi đi ngang qua nhà thờ Notre-Dame-de-Lourde, thấy cửa còn mở tuy trời đã khuya, chàng lững thững bước vào. “Tôi quỳ xuống và nói với Chúa: ‘Ngài có hai lựa chọn, hoặc cất con về hoặc cho đời con một ý nghĩa’”. Và Claude Paradis đi tu.

Năm 1997 được thụ phong linh mục. Ông tân linh mục này không chịu về một giáo xứ nào cả mà chỉ thích trở lại đường phố. Cuộc sống dính liền với dân bụi không phải là một cuộc sống dễ chịu, ngay cả với một linh mục. Chỉ hai năm sau khi nhậm chức, cha Paradis đã lại sa vào nghiện ngập, rượu rồi ma túy. Nhưng cha đã được bề trên cấp tốc đưa đi chữa trị và phục hồi.

Ông cha bụi Claude Paradis

Năm nay vị linh mục bụi này được 63 tuổi, trông không ra dáng một ông cha. Nếu chạm trán ông trên đường phố, người ta có thể lầm tưởng đây là một tay giang hồ già. Trên đầu là chiếc mũ dã cầu, mình khoác một chiếc áo sơ mi ngắn tay để lộ những vết xâm trên cánh tay. Cánh tay trái xâm hàng chữ “Dealer of Hope” bao quanh hình Chúa, nằm trên hình một chuỗi tràng hạt, cuối cùng là một con rắn quấn quanh cổ tay. “Dealer of Hope” có thể dịch là “Tay buôn bán Hy Vọng” chăng? Trên tay phải có hình xâm đầu một con hổ, hình này là để tương đồng với hình xâm của một thanh niên cũng đã có thời homeless mà ông nhận làm con.

Hình như trang bị như vậy chưa đủ bụi, ông cha chịu chơi này còn mang một cặp kính gọng đỏ và ba chiếc nhẫn trên ngón tay. Để cho công bằng, cũng phải kể thêm cây thánh giá khá lớn trước ngực chứng tỏ ông là dân theo Chúa. Nhưng dù có cây thánh giá trước ngực, vẫn ít người nhận ra ông là một linh mục. Ông cho biết ông chẳng care chuyện này, miễn dân đường phố chấp nhận ông là được.

Người chấp nhận ông hăng hái nhất là chàng thanh niên 18 tuổi tên Olivier, người mà ông nhận là con. Ông gặp anh này khi ông cộng tác với một vị linh mục đường phố nổi danh khác: cha Emmett Johns, có xước danh là Pope, người mà trong một bài trước đây tôi đã đề cập tới. Anh chàng Olivier đã lang thang từ nhà trọ từ thiện này tới nhà trọ từ thiện khác. Dễ chừng cũng đã qua tới năm bảy nhà trọ khác nhau. Cuối cùng, anh bị ung thư. Trong bệnh viện, anh ước được cha Paradis tới thăm. Cha Paradis tới. Ông kể lại: “Anh nói với tôi, ‘Không ai thèm chú ý tới con khi con còn sống, vậy cha có nhìn con khi con chết không’”. Ông ở lại với chàng thanh niên vắn số này. Trước khi lìa đời, anh nói với cha Paradis: “Cha ở với con trong này, vậy thì ai giúp đỡ các người khác trên hè phố?”.

Cha Paradis làm lễ bên hè phố (ảnh Montreal Gazette)

Để giữ lời hứa với Olivier, cha Paradis đã lập ra hội Notre-Dame-de-la-rue vào năm 2013, để chăm sóc dân hè phố. Hội được tòa Giám Mục Montreal bảo trợ. Hoạt động với dân bụi, cha phải thức suốt đêm, từ 9 giờ tối tới 5 giờ sáng. Ngoài ra, cha còn tới giúp cho khám đường Leclerc, dành giam phụ nữ, mỗi tuần hai đêm. Lo cho người sống, cha còn lo cho người chết. Tháng Chín hàng năm, cha chủ trì việc chôn cất các xác chết vô thừa nhận tại Montreal. Đó là xác của những gái điếm, dân vô gia cư hoặc các người già chết cô đơn không thân nhân. Năm ngoái, đám tang tập thể này đã chôn 127 người. Để kính trọng từng người quá cố, cha đã xin hoa hồng của một tiệm hoa, mỗi lần xướng danh, cha bỏ một bông hồng xuống huyệt mộ.

Làm được chi cho những người cần giúp đỡ là thứ cha coi như một bổn phận phải làm. Không một chút vụ lợi nào cả. Ngay cả việc truyền đạo cũng không được xen vào những hành động bác ái này. Cha quan niệm truyền đạo không phải là nhồi nhét vào đầu người ta những thánh kinh, giáo điều hay kinh kệ. Sống đạo là cách truyền đạo hiệu quả nhất. Lối sống vì người của cha là cách cha dẫn người ta tìm hiểu về đạo. Dân bụi rất cần một người lắng nghe họ nói. “Một khi tìm được cái tai lắng nghe, họ cảm thấy tự tin hơn. Hỏi biết tên họ, khi ta gọi tên lên, họ sẽ cảm thấy như phẩm giá của họ được phục hồi. Nhìn vào ánh mắt họ, nụ cười của họ, ta sẽ thấy được điều kỳ diệu này”.

Cha Paradis trong nhà thờ

Địa bàn hoạt động của cha đêm đêm là bên ngoài trạm  xe điện ngầm Place d’Armes, ngay gần trung tâm thành phố. Khoảng 5 giờ chiều, cha cùng các thiện nguyện viên tới dọn bàn với các loại bánh, sữa chua, cá hộp và cà phê nóng. Dân bụi tụ tập lại, muốn lấy bao nhiêu cũng được. Trên ghế sau của chiếc xe đậu gần đó, lủ khủ đủ thứ mũ, khăn, tất và áo lạnh cho những ai cần tới.

Với số tuổi trên 60, thêm việc ăn uống, làm việc thất thường, cơ thể cha như đã thấm đòn thời gian. Sau mỗi đêm thức trắng ngoài đường phố, xương cốt cha đã nhức nhối. Nhưng cha đã nguyện sẽ tiếp tục hoạt động như vậy cho tới khi cạn sức. Cha, như các linh mục khác trong giáo phận, đã được dành cho một lô đất tại nghĩa địa Saint-Francois d’Assise, nhưng cha đã từ chối đặc ân này. Ước muốn của cha là sẽ được chôn cùng với những người vô thừa nhận, những người mà cha đã chôn cất trong nhiều năm qua. “Đó mới là chỗ của tôi. Đó mới là gia đình và người thân thuộc của tôi. Tôi phải nằm với họ!”.

Chuyện các linh mục hoạt động giúp dân bụi khá nhiều. Hầu như có ở khắp nơi. Nhưng sống chết hết mình cùng dân bụi như cha Paradis không nhiều. Tôi có thời gian hoạt động cứu giúp trẻ đường phố tại Sài Gòn. Như một công chức! Thiệt không bằng một góc cha Paradis. Tôi không thể dấn thân với họ như các nhà hoạt động từ thiện khác mà chỉ hỗ trợ họ. Tôi cung cấp chỗ ở và tiền bạc cho họ hoạt động. Hội từ thiện hợp tác với tôi ngày đó là một hội đoàn người Mỹ sang hoạt động tại Việt Nam. Lâu ngày quá tôi quên khuấy tên hội này. Nhân viên của họ là những thanh niên trẻ, ăn ngủ cùng dân bụi, phần lớn là các trẻ ăn xin, ăn cắp và đánh giầy trên đường phố. Chúng chỉ phục những người sống ngang tàng như chúng. Những thanh niên ngoại quốc này ăn bận cẩu thả, sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi với chúng. Một khi đã tâm phục, đám trẻ này sống hết sức nghĩa khí. Có lần tôi tới chơi với đám thanh niên này. Họ sắp đặt trước cho một dân mõi dưới trướng của họ rút ví của tôi. Tôi đã được báo trước coi chừng mất ví, vậy mà chỉ trong nhấp nháy chiếc ví của tôi bay mất mà tôi không hề biết. Cậu oắt biểu diễn một màn rất điêu luyện. Tay nghề cao như vậy nhưng khi được đề nghị đưa đi huấn luyện một nghề lương thiện, cậu cười toe bằng lòng ngay. Bởi “tình nghĩa” của cậu với các thanh niên ngoại quốc này.

Muốn hoạt động với các trẻ bụi đời phải là người có cái tâm với chúng và được chúng cảm mến. Ngày đó, gia đình An Phong ở Vũng Tàu do cha Nguyễn văn Qui điều khiển cũng rất thành công. Nhờ tính chịu chơi của ông cha Dòng Chúa Cứu Thế này.

Cha Qui kể lại sự tình từ khi bắt đầu: “Lúc đó, năm 1963, tôi làm quản lý dòng Chúa Cứu Thế ở Rạch Dừa, Vũng Tàu. Trong những lần đi chợ cho nhà dòng, tôi có dịp gặp nhiều em đánh giầy và lần lần quen thân với các em.  Một hôm, tám em đánh giầy tới xin tôi ở… Tôi cười và nói: “Bộ tụi con muốn đi tu hả, nhà này là một Tu Viện mà?” Các em trả lời: “Không, tụi con muốn ở với cha”. Ở với cha mà không chịu đi tu: đó là cả một vấn đề. May phước tôi làm quản lý Nhà Dòng, nên có một khu riêng dành cho gia nhân, những người giúp việc cho Nhà Dòng. Để tám đứa ở chung với những gia nhân đó, trong bụng tôi nghĩ thầm: ở đây buồn chết, chúng nó ở ít ngày rồi sẽ đi sống lại ngoài chợ, vui nhộn hơn…Dè đâu, chúng nó không đi, mà còn rủ thêm các đứa khác đến ở… Thấm thoát, con số lên tới hơn hai chục. Bấy giờ ‘Chúa mới can thiệp vào vấn đề’”.

Chúa can thiệp bằng cách…quấy rối. Trước mặt nhà dòng là một phi trường của quân đội Mỹ. Phi cơ lên xuống liên lỉ gây nên tiếng động rất ồn ào. Tiếng ồn làm lớp học của các cha ở Đệ Tử Viện như cái chợ vỡ. Việc tu tập của các tập sinh bị trở ngại. Họ phàn nàn với cha Giám Tỉnh. Cha giải quyết vấn đề bằng cách dọn nhà Đệ Tử về Sài Gòn. Bất chiến tự nhiên thành. Khu nhà dòng bỗng chốc, nhờ bàn tay Chúa, thênh thang. Cha Qui tha hồ mang các em bụi đời về nuôi nấng. Có đất, cha nghĩ tới việc tự sản xuất để nuôi các em. Cha mua về hai chục con gà. Cha cho biết: “Bàn tay Chúa thấy rõ ràng. Chúa sinh Chúa dưỡng”. Gà do Chúa nuôi có khác: từ hai chục con gia tăng đến sáu ngàn con vào tháng Tư năm 1975. Đó là không kể dân bụi đã ăn không biết bao nhiêu thịt và trứng gà, lại còn bán ra để mua các thứ cần thiết khác.

Cha Qui có lối giáo dục không giống ai. Cha nói với các em: “ Chúa dựng nên con người và cho hoàn toàn tự do. Cho nên trong nhà của mình, chúng con muốn làm gì thì làm. Đứa nào muốn đi học, cha cho đi học. Đứa nào muốn học nghề, cha cho học nghề. Còn đứa nào muốn ở không chơi, không làm gì hết, vẫn cứ được như thường. Không làm gì hết mà đến bữa ăn, có quyền đến ăn như mọi người, vì mình là đứa con trong nhà thì mình có quyền ăn, còn làm việc là chuyện khác. Nghe vậy, đứa nào cũng thích, và tụi nó mới rủ nhau đến ở càng ngày càng đông”.

Các em lớn bàn với cha: nhà ngày càng đông, cha cần chia thành nhóm cho dễ quản trị. Lối chia nhóm của các em này cũng là một cách giáo dục tự giác. Tất cả các thành viên trong nhà đều là trẻ bụi đời. Vậy họ chia làm ba nhóm. Nhóm đi học chữ gọi là “Bụi Non”, nhóm học nghề là “Bụi Già”, nhóm không học chữ cũng không học nghề, suốt ngày chẳng làm gì cả là nhóm “Bụi Cà Nhỏng”! Người ta đi học để có tương lai, mình không chịu học chi mà tới bữa cứ nhào vào ăn, ngượng chứ. Vậy là quân số nhóm bụi cà nhỏng ngày càng mỏng dần tới lúc rã đám luôn.

Lối dậy nghề của cha cũng rất…bụi. Cơ quan viện trợ Công Giáo Mỹ thường xuyên cho trại bột mì. Cha mướn một ông thợ làm bánh người Hoa tên là chú Hai xây lò làm và nướng bánh bằng củi. Cha bảo các em đứa nào muốn học nghề làm bánh mì thì theo chú Hai. Cha cũng mướn hai anh thợ máy xe hơi để mở “Garage An Phong”. Cha khuyến khích em nào muốn học sửa xe hơi thì theo hai anh này. Vậy là cha có thêm lớp dạy nghề máy. Đám thợ vịn này ngày càng tinh thông nghề. Hai cơ sở “Lò Bánh Mì An Phong “ và “Garage An Phong” đã có thể kiếm lời nuôi sống các em.

Có phương tiện, cha mạnh tay thu nhận bất cứ trẻ bụi đời nào muốn gia nhập gia đình An Phong. Có những trường hợp khá vui. Cha Qui kể: “Một hôm tôi đi chợ ở Chợ Lớn. Đi chợ xong, trở lại xe, tôi thấy mười một em với thùng giầy trên tay, ngồi sẵn trên xe: các em ngồi chơi vì biết là xe của cha Qui. Tôi ngó các em, các em nhìn tôi cười, chào nhau. Tôi mới buột miệng hỏi các em: “Cha đi về Vũng Tàu nè, đứa nào muốn đi Vũng Tàu tắm biển vài ngày rồi trở về Chợ Lớn lại, cha sẽ chở về”. Các em dòm nhau, hỏi ý kiến, rồi bảo nhau: “Mình phải đi trả thùng giầy cho “anh nuôi” đã”. Mỗi em có “anh nuôi” và thùng giầy riêng của anh đó. Mấy em nhanh chân, nhẩy xuống xe và trong mấy phút, chạy trở lại, nhẩy lên xe, ngồi gọn gàng, vui cười khoái chí. Thế là 11 em đánh giầy ở Chợ Lớn, không cần tính toán lâu, bắt đầu đi Vũng Tàu tắm biển. Thứ hai tuần sau, tôi có dịp lên Sài gòn. Tôi gọi 11 em hôm trước đến và hỏi: “Cha đi Sài gòn đây, tụi con muốn về thì lên xe”. Các em ngó nhau, cười và đồng thanh: “Không, tụi con không về, tụi con ở lại đây với cha…” Vậy là gia đình An Phong tăng số thêm 11 người nữa”.

Cha Qui…ăn nên làm ra khiến, ngoài các em bụi đời, còn có những gia đình nghèo khó cũng tới xin ở. Con số dần dần tăng tới mấy chục gia đình. Cha nuôi tuốt! Có những bà mẹ sanh con, không nuôi nổi, tới gửi cha, cha cũng gật đầu. Số trẻ sơ sinh ngày càng đông. Cha phải mở tới hai phòng gồm 40 cái nôi để nuôi những em này. Nhân số đông, tốn kém cũng bộn, cha chưa biết xoay sở ra sao thì Chúa lại nhúng tay vào. Cha Qui kể lại: “Thêm các gia đình nghèo và các em sơ sinh, thì thêm miệng ăn. Chúa lại gởi quân đội Mỹ và Úc đem đồ giặt đến: gia đình An Phong lại thêm nhà giặt ủi để nuôi sống nhau… Tạ ơn Chúa ! Nhờ Chúa soi sáng và dẫn dắt, đường lối làm việc trong gia đình An Phong tóm tắt trong một câu: “Tôn trọng tự do và yêu thương lẫn nhau”. Cho nên gia đình An Phong không từ chối một người nào đến xin giúp đỡ. Kết quả: ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi miền Nam sụp đổ, con cái Chúa, tính ra được: hơn 300 em bụi đời, hơn 100 ông bà gia đình nghèo, và hơn 100 em bé cô nhi”.

Tôi khoái ông cha…bụi này. Làm cha trong nhà thờ chắc không cực bằng làm cha ngoài đường phố. Nhưng sống lời Chúa phải chăng là cùng sống, cùng đồng cam cộng khổ và yêu tha nhân bằng tình người. Nếu đúng vậy thì những ông cha bụi như cha Claude Paradis, cha Louis Nguyễn văn Qui này là…số dách. Bụi tàn canh!

03/2019

Website: www.songthao.com

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Ford Mustang 2024
Ford Mustang đời 2024 vẫn sử dụng động cơ V8, hộp số sàn, nhưng nội thất hiện đại hơn với kiểu thắng tay điện tử. Theo Car and Driver.
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: