Con mèo trong trại tù

Share:

Đi lao động về , bước chân vào cổng trại , tôi thấy không khí có vẻ khác thường. Các anh cùng trại tù với tôi (trại Xuân Lộc, phân trại A) đang lăng xăng chạy tới, chạy lui. Tất cả gương mặt đều nghiêm trọng nhưng tiềm ẩn một điều gì phấn khởi ghê gớm. Tôi chận một anh lại hỏi :” Cái gì vậy ?”. Anh ta vừa chạy vừa nói với theo: ” Trưa nay trại đọc danh sách, thả nhiều lắm “.
Tôi bình tĩnh bước về phòng giam, lòng hơi xao xuyến nhưng nghĩ rằng không có tên mình. Dân ” Xịa” (CIA) mà, các anh trong trại thường hay kháo nhau khi nói về tôi. Bước ngang qua cửa sổ để vào buồng, một con mèo xám nhỏ, gương mặt thật dể thương đang nhảy lên nhảy xuống từ thành cửa sổ xuống đất. Một sợi dây nhỏ buộc cổ nó và nối vào song sắt cửa sổ.

Tôi cúi xuống ôm con mèo xám nhỏ, vuốt ve nó, mặc cho hoạt động lao xao bên ngoài. Một anh chạy ngang qua bảo: “Của thằng trực buồng đó”. Con mèo kêu meo meo, đôi mắt sáng long lanh nhìn tôi . Tôi buông nó xuống, không muốn vấn vương tình cảm vì bản tánh tôi yêu mến thú vật. Tôi có kinh nghiệm, ở tù Cộng Sản, những liên hệ tình cảm không được lâu bền, dễ gây cho mình những sự mất mát .
Cơm nước xong, nằm nghỉ ngơi một chút thì có kẻng tập họp. Bước vào sân trại, các bạn cùng tù ngồi chật cả sân, gương mặt nôn nóng chờ đợi. Một tên cán bộ Cộng Sản đứng trước mặt, cầm một xấp giấy trên tay. Hắn ta đọc tên những người được thả. Lần lượt những người được đọc tên, luống cuống đứng dậy, gương mặt tái xanh vì vui mừng quá độ, chạy vội về buồng sắp xếp hành trang. Tên cán bộ đọc từ 2 giờ trưa đến 4 giờ chiều mới xong, danh sách thả hơn một ngàn người. Đợt thả năm 1985 là đợt thả lớn nhứt. Trại tù Xuân Lộc gồm 3 phân trại A , B, C có khoảng 2000 người. Như vậy, danh sách thả gần 2/3 tù của ba trại.
Cuối cùng, quả thật không có tên tôi. Dân ” Xịa ” mà!. Tôi lủi thủi bước về buồng, chẳng màng đến các anh có tên về, chạy qua chạy lại như tên bắn đem quà của mình cho những bạn ở lại. Chiều nay, trại cho ăn cơm sớm. Một thau lớn đựng cơm, mốc và mọt, và một thau nhỏ đựng canh để trước cửa buồng. Bọn tù chúng tôi gọi là canh đại dương vì toàn là nước, nổi lềnh bềnh vài cọng rau muống hay một vài lá xanh xanh gọi là rau.

Mọi bữa, anh trực buồng chia cơm, nay vắng anh vì anh có tên về, để thau cơm, mốc và mọt, nằm chênh vênh. Tôi lẩm bẩm: ” Hôm nay là ngày XHCN mà, làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Tôi uể oải xúc một tô cơm rồi bước vào buồng, đến chổ nằm từng trên. Buồng vắng tanh, mọi hôm nhộn nhịp lắm. Luôn luôn, buồng nào cũng có hai đội, mỗi đội khoảng từ 20 đến 25 người, vị chi tất cả là 50 người. Hôm đó lác đác chỉ còn lại khoảng mười mấy người. Tôi leo lên từng trên, chỗ tôi nằm, để tô cơm xuống, nhìn anh bạn láng giềng, người Huế, độc nhứt còn lại. Anh cười với tôi, miệng méo xệch, không nói một lời nào. Tôi cũng cười với anh, chắc miệng cũng méo xệch như vậy.

Tôi lấy trong túi cót ra một hộp chao nhỏ xíu, trong đó có 4 cục chao. Mỗi bữa ăn tôi giới hạn cho mình một cục chao, như vậy với hộp chao nhỏ, tôi có thể kéo dài thức ăn ra hai ngày. Trịnh trọng trải khăn trắng ra dưới sàn nằm, đặt tô cơm mọt và mốc lên rồi mở hộp chao ra, vít một cục chao vào tô cơm và cuối cùng rưới một tí xíu nước chao lên cơm. Đó là buổi ăn thịnh soạn của tôi hàng ngày. Tôi ngồi trên sàn cao nhìn xuống, lác đác vài người ngồi ăn. Tất cả đều im lặng, miên man nghĩ về gia đình mình. Một không khí buồn bã, im vắng ngự trị trong buồng.
Con mèo xám nhỏ, đánh hơi thức ăn, chạy kêu meo meo dưới đất. Chắc anh trực buồng, trước khi về, chỉ kịp mở dây ra cho nó. Con mèo xám nhỏ bơ vơ, cầu cứu kêu ăn. Tất cả các anh trong buồng ngồi im như tượng đá. Họ vừa trải qua một cơn xúc động ghê gớm, thân phận mình về đâu và gia đình ra làm sao đây ?. Họ dửng dưng nhìn con mèo xám như muốn nói :” Tao lo thân tao chưa xong làm sao lo cho mầy “.
Tôi leo xuống đất, ôm con mèo xám lên. Kiếm một cái chén nhỏ, xúc ra một ít cơm. Vì biết con mèo không ăn chao được, tôi lấy bình chà bông mà mẹ tôi cho. Đó là đồ ăn chiến lược, tôi để dành khi nào ốm đau hay cạn kiệt mới lấy ra ăn. Tôi chúm một ít chà bông, trộn vào cơm rồi đưa cho con mèo. Con mèo ăn một cách ngon lành. Gương mặt nó láu lỉnh, thông minh, nó gừ gừ, hình như muốn nói :” Cám ơn, cám ơn “. Chắc có lẽ vì đói quá, nó ăn một loáng là xong. Tôi xúc thêm cho nó một it́ cơm và một ít chà bông nữa.

Ăn cơm xong, con mèo no nê, như muốn làm quen, lấy thân mình cạ cạ vào người tôi. Tôi không muốn tiến xa tình cảm hơn nữa nên bảo nó: “Đừng có làm quen tao. Thôi hôm nay no nê rồi, đi kiếm chổ khác mà ở”. Tôi ôm con mèo bỏ xuống đất rồi leo lên sàn lại. Nhìn xuống, thấy con mèo đang nhìn tôi kêu meo meo. Tôi cứng rắn, không thèm nhìn nó nữa, nằm nghỉ ngơi chờ giờ điểm danh đóng cửa buồng.
Hôm sau đi làm về, tôi tất bật rửa tay, rửa chân, lấy cơm, mọt và mốc muôn năm, rồi leo lên sàn ngồi ăn. Không khí nặng nề, im vắng vẫn còn ngự trị trong phòng. Con mèo xám ở đâu chạy ra, đến đúng chổ tôi ngồi, ngước mặt lên nhìn tôi kêu meo meo xin ăn. Cầm lòng không đậu, tôi lại nhảy xuống ôm con mèo lên cho ăn. Nhìn nó nhỏ nhẻ nhai cơm, tôi thấy vui vui, nỗi cô đơn tan biến trong chốc lát. Nhưng sau đó, khi ăn cơm xong, tôi vẫn cương quyết chia tay với con mèo. Ôm con mèo xuống đất, tôi bảo: “Thôi đi đi, đừng theo tao nữa”. 
Buổi chiều hôm sau nữa, đi lao động về, lại tất bật tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ, ngồi nhai cơm mốc với một cục chao nhỏ xíu. Miên man suy nghĩ, nỗi buồn như thấm vào từng sớ thịt. Các sĩ quan Hải Quân, lâu lâu gặp laị để tâm sự thì về hết rồi. Nào Nguyễn địch Hùng (khóa 6, Hạm Trưởng HQ 1), Nguyễn quang Hùng, Lê văn Quế (khóa 9), Hà hiếu Diệp (khoá 10), Võ duy Kỷ (khóa 11), Nguyễn văn Hồng (khóa 14)… Hai thằng bạn cùng khóa còn lại là Sử và Hào Râu cũng về nốt.

Bây giờ chỉ còn lại Đại Tá Trần phước Dủ và… tôi. Tôi gục gặt đầu :” Mình cũng là thứ dữ đó “. Dòng tư tưởng đang trải dài bất tận thì bị cắt ngang. Một anh ngồi sàn dưới kêu lên: ” Anh Phước, con mèo đang trèo lên anh kìa”. Tôi thò đầu ra ngoài mép sàn nhìn. Con mèo nhỏ đang vươn móng ra, cố bám vào thành gỗ có các cục u dùng để bước lên sàn trên. Móng chân nó quào quào trượt trên các thành gỗ cứng ngắt. Con mèo sắp sửa rơi xuống. Tôi vội vàng dở ” cầm nả thủ ” chụp lấy nó mang lên sàn. Tôi lắc đầu bảo nó: “Chà, sao mầy đeo theo tao dữ vậy, bộ tao mắc nợ mầy sao”. Rồi từ đó con mèo trở thành bạn thân tôi lúc nào không hay. Nó chia xẻ sự cô đơn với tôi, nó hòa lẫn vào đời sống tôi. Lúc ăn có nó kế bên, lúc ngủ nó cũng nằm kế bên tôi.
Anh bạn cùng sàn với tôi tỏ vẻ khó chịu khi thấy tôi nuôi con mèo. Anh than phiền với tôi là anh mất một cây lạp xưởng. Ôi, quý lắm, bao nhiêu là 
“chất” trong đó, nói theo kiểu các anh hình sự ngoài Bắc. Không biết anh nghi tôi hay nghi con mèo. Không khí lạnh nhạt có vẻ nặng nề. Một bữa trưa, cơm nước xong, nằm nghỉ ngơi, con mèo xám nằm kế bên tôi. Tôi thấy anh bạn láng giềng cử chỉ có vẻ khác lạ. Mặt giận dữ, anh nhìn chằm chằm vào con mèo. Tôi liếc con mèo thì thấy nó lại nhìn chằm chằm vào túi cót đựng quà của anh bạn. À ra thế. Tôi nói, cố ý để anh bạn láng giềng nghe: “Mimi ( tôi đặt tên cho con mèo ), qua đây nằm mầy”.

Tôi cầm con mèo bỏ qua người tôi, cách ly nó và túi cót. Anh bạn dịu sắc mặt lại và lim dim nằm ngủ. Bổng nhiên con mèo phóng qua người tôi, lao về túi cót. Tôi thầm bảo: “Chết cha rồi, mầy làm ẩu như vậy đâu có được”. Anh bạn láng giềng cũng choàng tỉnh dậy. Cả hai chưa kịp phản ứng gì thì thấy con mèo xám chụp được con chuột lắt từ trong túi cót của anh bạn bò ra. Tôi hả hê khoái trá vì bao nhiêu nghi ngờ tan biến hết. Còn anh bạn, hơi mắc cở nhưng vui vẻ tỏ vẻ cám ơn, nói với giọng Huế đặc sệt: “Con mèo chi mô mà hay rứa”.
Trong trại tôi lúc đó, trại Xuân Lộc phân trại A, có một anh khá đặc biệt. Tên anh là Hảo, nhưng các anh cùng tṛại khoái gọi anh là Má Mèo. Anh nguyên là Đại Úy Quân Cảnh. Lúc trước chắc cũng phong độ lắm, nhưng bây giờ cười hay nói, nhe ra chỉ có một vài cái răng. Chân anh đi cà nhắc, một vài người kháo là anh trốn trại, nhảy tường nên chân có tật rồi bọn Việt Cộng tẩm quất lấy vài cái răng. Anh nuôi con mèo cái mẹ, đẻ mấy lứa anh đều nuôi hết vì vậy tổng cộng gần cả chục con. Anh có biệt danh Má Mèo từ đó mà ra.

Anh không có vợ con, nhưng có bà mẹ, chắc khá giả, lên thăm nuôi anh thường xuyên. Vì vậy mà anh có khả năng nuôi cả chục con mèo. Mỗi khi anh ngồi ăn, mèo lủ khủ kế bên, có con trong lòng anh, con đứng kế bên, con nằm dưới đất. Cảnh tượng trông rất buồn cười. Má Mèo như một bà vú nuôi. Anh nghe nói tôi nuôi một con mèo, gặp tôi anh nằn nì, bảo: “Phước, mang con mèo đến tôi coi chơi”. Tôi nói: “Ờ, cơm xong cái đã “. Buổi chiều cơm nước xong, tôi ôm con mèo đến anh. Má Mèo đang đứng ngoài sân, đùa với mấy con mèo con. Tôi quăng con mèo xám xuống đất. Thấy mèo lạ, con mèo xám cong thân lại, lông xù ra, kêu gừ gừ, đuôi dựng đứng lên như ngọn cờ trông rất oai phong. Mèo con của Má Mèo chạy tán loạn, còn mèo mẹ gừ gừ nhưng không dám đến. Má Mèo nóng ruột, la lên :” Phước, đừng giỡn, Phước “. Tôi cười, ôm con mèo xám về buồng.
Bọn Việt Cộng giải tán phân trại B, dồn tù còn lại qua trại A và C. Các đội được sắp xếp người lại, bọn chúng gọi là biên chế. Tôi bị chuyển qua đội khác gồm toàn các ông đại tá, chúng tôi gọi thân mật là bò lục. Tôi chỉ còn nhớ hai vị là Đại Tá Phúc, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 2 Không Quân 
và Đại Tá Vũ thế Quang, Tư Lịnh Phó Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Sở dĩ, tôi còn nhớ hai vị nầy vì hai ông thường hay mượn sách tiếng Anh của tôi. Trong trại, tôi nổi tiếng có một kho sách mà tôi dám giấu diếm gần hai chục quyển. Các quyển sách nầy do em gái tôi mang lên từ từ. Rồi đem vào trại, để qua mắt bọn Việt Cộng là cả một vấn đề mạo hiểm. Các anh trong trại mê đọc sách nhưng không dám giữ, hay đến làm thân với tôi để được mượn sách. Giữ sách tiếng Anh là cả một vấn đề nguy hiểm. Anh Hà hiếu Diệp bị khám phá giữ sách tiếng Anh, bị cùm mấy tháng trời liên tiếp.
Tôi nằm sàn trên kế bên Đại Tá Quang. Ông không thích mèo nhưng vì mấy quyển sách của tôi nên cũng tỏ vẻ lịch sự. Các vị bò lục khác trong buồng cũng vậy, không thích thú vật nhưng vì thấy tôi cấp nhí nên họ không nói. Một bữa trưa cả đội đang ngồi ăn cơm. Các vị bò lục quây quần với nhau vì các ông là bạn thân với nhau và cũng để chia xẻ thức ăn với nhau mà gia đình cung cấp khi đi thăm nuôi.

Tôi chỉ có con mèo xám là bạn thân. Tôi chia xẻ thức ăn với nó. Tôi đưa chén cơm cho nó. Nó có vẻ thờ ơ, nhìn lên trần nhà vẩn vơ làm như không thèm để ý tới miếng ăn. Tôi nghĩ thầm trong bụng :” Chắc chú mầy bắt được một con chuột nào rồi, phải không ?”. Bỗng thoắt, con mèo phóng lên trần nhà như một mũi tên. Trần nhà được đan chằng chịt bằng dây kẽm gai để đề phòng tù trốn. Tôi ngước nhìn theo, thấy nó vươn chân trước vỗ một cái, một con chuột to trên trần nhà rơi xuống. Con mèo lao vút theo, vừa chạm tới đất, con chuột nằm gọn giữa hai hàm răng của nó. Cả buồng chứng kiến cảnh phi thân tài ba của nó, vỗ tay rần rần. Có người nói lớn lên: “Thế là các anh thăm nuôi nhiều, khỏi lo sợ chuột nữa nhé”. Các vị bò lục cười hể hả vì họ có quà thăm nuôi nhiều nhứt. Từ đó con mèo xám đi ngênh ngang khắp nơi, được nhìn bằng những đôi mắt thiện cảm.
Con mèo bắt đầu trổ mã, đẹp lắm. Lông mọc dài xám mượt, xen lẫn những vân đen trông giống như cọp. Tôi thích gương mặt nó, mặt tròn sáng sủa, trông rất thông minh và có duyên. Có lẽ nó lai giống mèo rừng nên rất bự con. Thỉnh thoảng khi đi, nó dựng đứng đuôi lên, lông xù ra trông rất oai. Tôi đi lao động thì nó cũng đi, đi đâu không biết. Nhưng khi tôi về ăn cơm hoặc nằm đọc sách, nghe tiếng sột soạt là biết nó đang trèo lên chỗ tôi. Nó nằm kế bên tôi trông rất thoải mái và an bình. Đối với tôi, vợ con không có, mẹ già và anh chị em đều xa diệu vợi, không gian lẫn thời gian, con mèo là một phần tình cảm của tôi.
Buổi trưa, mùa Hè ở Xuân Lộc nắng gay gắt. Bỗng nhiên mây kéo đến đen kịt rồi trời đổ mưa rầm rập. Những giọt mưa đầu mùa mang hơi lạnh se sắt đến cho tù nhân. Nó làm trôi đi những bụi bặm nhưng nó không cuốn trôi được những nỗi ưu phiền của tù nhân xa xứ. Mỗi khi mưa to, bọn Việt Cộng cho tù nghỉ vì sợ tù trốn trại chớ chẳng yêu thương gì ai. Mặc dù ” lao động là vinh quang “, mặc dù ” lao động là xây dựng chủ nghĩa xã hội “, chúng tôi vẫn thích được nghỉ hơn. Biết chắc là chiều nay được nghỉ, tôi trùm mền nằm ngủ. Gió lạnh từ cửa sổ phà vào mặt, tôi nằm sung sướng lắng nghe tiếng thời gian dần trôi. Buồng im vắng, chỉ nghe tiếng mưa rào rào bên ngoài.

Bỗng nghe có tiếng oa oa rất lớn như tiếng con nít kêu. Tôi định thần xem tiếng đó là tiếng gì và xuất phát từ đâu. Một vị bò lục tầng dưới kêu lên: “Anh Phước ơi, con mèo của anh ở dưới sàn đang làm gì kìa”. Tôi vội vàng nhảy xuống, bò mọp xuống đất thì thấy con mèo xám ngoạm một con ếch rất to, lớn hơn nắm tay người lớn. Tôi chưa từng thấy con ếch nào to như vậy, có lẽ ếch rừng. Tôi vổ tay xuống đất, bảo: “Mimi ra đây”. Con mèo xám bò ra”. Tôi cầm chặt hai chân ếch và ra lệnh: “Mimi nhả ra”. Nó nhả con ếch ra và chạy theo tôi kêu meo meo, như bảo: “Của tôi mà, của tôi mà”.
Tôi và Đức Đù, anh em thân mật gọi là Đức Cống, nấu cơm chung, ăn với nhau cho vui. Đức nguyên là Thiếu Tá, Đại đội trưởng Trinh Sát Dù, khóa 22 Võ Bị Đà Lạt. Chiều hôm đó, Đức Dù trổ tài nấu bếp. Anh chặt đầu con ếch, lột da rồi đem chiên lên sau khi tẩm ướp gia vị. Và quả thật, đây là một trong những bữa cơm ngon trong tù mà khi nhắc lại, tôi vẫn còn nhớ hương vị đậm đà của nó. Đầu ếch cũng được chiên và đó là phần thưởng cho Mimi. Nó nhỏ nhẹ nhai kế bên chúng tôi và hình như nó cũng bằng lòng với phần chia của mình.
Bọn Việt Cộng lại sắp xếp nhân lực. Bọn chúng thông báo cho chúng tôi biết, một số tương đối khoẻ mạnh, sáng mai di chuyển ra tăng cường cho trại C. Chiều hôm đó, sau khi cơm xong, tôi bắt con mèo xám bỏ vào túi cót lớn, sợ sáng mai lụp chụp nó bỏ đi đâu mất. Tôi quý nó hơn tất cả những gì tôi có lúc đó. Nó len lén đi vào tình cảm của tôi lúc nào không hay và tôi cảm thấy không thể bỏ rơi nó được. Tôi có một điểm yếu về tình cảm. Những gì của tôi là của tôi, tôi không muốn bỏ rơi và không muốn đánh mất.
Sáng hôm sau, chúng tôi tập họp để lên đường, lội bộ qua trại C. Anh Bùi Quyền, Trung Tá Lữ Đoàn Phó Dù, cũng ở trong nhóm, hỏi tôi: “Con mèo đâu”. Tôi chỉ túi cót. Anh gật gù bảo: “Ờ phải mang theo chứ”. Và anh đề nghị xách dùm cho tôi một ít đồ đạc để tôi rảnh tay xách túi cót đựng con mèo. Đường thì xa, đồ đạc lỉnh kỉnh đủ mọi thứ, phải mang theo để có vật dụng xài. Lưng đeo sac marin thật lớn, quàng ở vai cái bị, hai tay xách hai túi cót, lội bộ gần mười cây số, đến trại C thì bở hơi tai, mồ hôi ra như tắm.
Trước cổng trại C, chúng tôi phải qua thủ tục khám xét hành lý cá nhân để xem có đem gì cấm kỵ vào trại không. Con mèo xám mà chúng bắt được thì chúng mừng lắm vì được “chất tươi mà “. Tôi lại phải dở ngón đòn ” lì ” của tôi ra. Lợi dụng các anh bị chúng lục soát trước rồi mang đồ đi, tôi cũng tỉnh queo xách túi cót đựng con mèo di chuyển từng đoạn một rồi cuối cùng xách áp vào bờ kẽm gai, có một số bạn bè đang đứng ở đó. Tôi hất đầu ra dấu nhờ họ xách dùm đi. Con mèo xám được mang vào cổng trại êm ru bà rù.
Chúng tôi được tập họp vào một buồng ở cuối trại chờ phân phối đi các buồng khác. Buổi trưa trời nóng hâm hấp. Sợ con mèo ngộp thở, tôi mở túi cót, ôm con mèo ra. Con mèo xám ngơ ngác nhìn xung quanh, cảnh vật lạ hoắc. Tôi chưa kịp phản ứng, con mèo nhảy ra vuột khỏi tay tôi, chui qua hàng rào, trốn vào rừng mất dạng. Tôi chạy theo kêu: ” Mimi,Mimi “. Nó không thèm quay trở lại. Quả thực là tôi sửng sốt, thất vọng và sững sờ. Công trình khổ biết bao nhiêu mà rồi trở thành công cốc. Tôi đứng lặng người đến khi bọn Việt Cộng thúc dục, tôi mới quay đi.
Tôi bị chuyển về đội mộc. Trong đội, tôi còn nhớ Đại Tá Nguyễn văn Thu (khóa 2 HQ), (Trung Tá Nguyễn nam Thanh An ninh HQ, khóa 7), Trung Tá Võ Ý ( nhà thơ Không Quân, khóa 17 Võ Bị Đà Lạt ), Thiếu Tá Châu ( tiểu đoàn trưởng Dù, khoá 19 Võ Bị Đà Lạt ). Tối hôm đó, tôi ngủ không được, trằn trọc mãi và bực tức vì con mèo bỏ chạy vào rừng. Giấc ngủ cứ chập chờn, chập chờn rồi thiếp đi vì mệt quá.

Khoảng 6 sáng, tôi thức dậy, trời mờ sáng. Bỗng tôi nghe tiếng kêu meo meo giống như tiếng kêu của con mèo xám. Tôi vội tốc mùng, chạy đến cửa sổ, nhìn ra bên ngoài, ánh sáng mờ mờ. Tôi kêu :” Mimi,Mimi “. Có tiếng mèo kêu đáp trả lại meo, meo. Tôi áp mặt vào khung cửa sổ để nhìn rõ hơn, vẫn không thấy gì. Tiếng anh Châu trong mùng vọng ra :” Con mèo ở dưới chân anh đó “. Tôi cúi xuống ôm nó như tìm được một báu vật vừa đành mất. Tôi nghe hơi thở nó rù rù bên tai.
Con mèo bây giờ đang độ trưởng thành. Nó to gấp rưỡi con mèo thường. Lông càng dài càng mượt. Cả trại đều biết nó là con mèo tôi nuôi. Đức Dù cũng di chuyển qua trại C, nhưng ở đội khác, bảo :” Con mèo đẹp quá bạn ạ, tôi kêu nó không đến “. Mặc dù Đức đã từng vuốt ve nó. Không ai bắt được nó, chỉ trừ tôi, kêu nó mới đến. Anh Võ Ý thường hay nói vui :” Phước không có vợ con nên thương con mèo là phải “.
Chuột rừng ở đây cũng to lắm. Một anh ” lâm sản”, nghĩa là tù đi đốn củi cho trại tù, bẫy được một con chuột rừng, mang về chơi. Con chuột rừng gần bằng mèo nhà, rất dữ, thấy mèo nhà là xáp lại. Mèo cái của Má Mèo chạy cong đuôi. Thế mà con mèo xám của tôi bắt được chuột rừng. Một hôm, tôi nghe nó nhai rau ráu dưới gầm sàn. Lôi con mèo ra, tôi thấy cái đầu chuột rừng to tổ bố. Vì vậy tôi thấy sau đó con mèo xám không ăn cơm nhà nữa. Ban đêm nó đi đâu mất tiêu, ban ngày về chổ tôi, nằm ngủ đưa bốn cẳng lên trời, phơi bụng ra.
Chủ nhật là ngày nghĩ ngơi, bồi dưởng của tù nhân. Buổi sáng vừa mở cửa buồng giam, bạn tù ùa ra, mỗi người dành một chổ nấu nướng, ăn uống, pha trà rồi đấu hót. Tôi cũng vậy, kiếm một chổ yên tĩnh, trải chiếu ra, dựng cái lò kế bên và bắt đầu trổ tài… qua loa. Tôi ăn uống rất giản dị, giản dị như những gói quà của mẹ tôi cho. Hoặc là mì gói, hoặc là bún miến, cho vài con tôm khô vào nồi nước, một ít bột ngọt, vài lá rau nhặt nhạnh được và rồi… húp sì sụp.

Con mèo ngồi kế bên cũng được một chén nhỏ. Nhưng hôm nay không thấy nó đâu cả. Mọi bữa nó về sớm, nằm ngủ kế bên tôi. Ăn uống xong, tôi đi quanh trại để xem con mèo có đi thơ thẩn ở đâu không. Đến trưa, vẫn không thấy mèo về. Tôi thấy là lạ, chuyện nầy chưa từng xảy ra. Bốn giờ chiều, trại phát cơm, cả buồng lăng xăng. Tôi thấy một anh cũng là tù nhân, từ cổng trại đang tất tả bước về hướng tôi. Anh là người phụ trách nuôi heo, nên chủ nhật cũng phải ra ngoài trại lo cho heo ăn.

Đến trước mặt tôi, anh hào hển nói: “Anh Phước, con mèo của anh chết rồi. Sáng nay, tôi thấy thằng chèo gác hàng rào trại, bắn nó chết. Nó cầm cái đuôi con mèo dơ lên. Tôi biết con mèo của anh mà, nó bự lắm. Thằng chèo nhe răng cười nham nhở “. Anh nhại giọng thằng chèo: ” Thế là chiều nay có chất tươi rồi đấy nhé “. 
Tôi đứng lặng người nhìn anh. Có gì nghẹn nơi cổ làm tôi không nói được tiếng nào. Anh bạn nhìn tôi ái ngại. Hình như anh muốn nói với tôi điều gì đó. Nhìn ánh mắt, tôi biết anh thương hại tôi. Anh muốn chia xẻ nỗi buồn với tôi, nỗi buồn như là chúng tôi có cùng một chiến hữu vừa nằm xuống.

Phuoc’s Cafe 

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: