Màu tím hoa sim và nhà thơ Hữu Loan, kỳ 3

Share:

Thế Đại Nguyễn Thái Đệ
(tiếp theo)

Bài thơ “màu tím hoa sim”
Hữu Loan viết “Màu tím hoa sim” năm 1949, khi đang dự lớp Chỉnh Huấn ở Nghệ An. Ông viết liền một mạch, xong trong vòng hai tiếng đồng hồ, gần như hoàn chỉnh luôn. Sau này, ông chỉ sửa lại đôi chỗ mà thôi. Nó là một phần cuộc đời của Hữu Loan, phần đẹp nhất và cũng là phần buồn nhất! Cho nên, dù ông viết rất thật, rất mộc mạc, nói như Vũ Bằng là “không có gọt rũa, không có văn chương gì cả”, hay như Vũ Cao “không có chữ nghĩa gì cả”, nhưng lại có sức lay động tột cùng và có sức sống mãnh liệt ngay cả trong giai đoạn mà tác giả và tác phẩm không được thừa nhận!

Bài thơ “Màu tím hoa sim” được xem là một tác phẩm lãng mạn nhất trong những tác phẩm lãng mạn thuộc thời kháng chiến. Bài thơ này ông viết là để khóc thương cho người vợ trẻ vắn số, mà lại bị coi là mang tính “tình cảm tiểu tư sản” của giới trí thức, nên bị cấm, nhưng vẫn được ngấm ngầm chuyền tay truyền tụng hết sức rộng rã, chẳng những trong hàng quân bộ đội, mà cả trong mọi giới văn nghệ sĩ và dân gian nữa. Cho đến khi phong trào “Nhân Văn Giai Phẩm” xuất hiện, Nguyễn Bính cho đăng bài này lần đầu tiên trên báo “Trăm Hoa”.

Với những người không biết Hữu Loan thì “Màu tím hoa sim” là cái cầu nối dẫn họ đến với ông. Với người biết ông thì bài thơ này chưa phải là đáng nói, so với nhân cách của ông, một nhân cách trung thực đến cứng cỏi, đáng là tấm gương sáng soi rọi cho giới trí thức trong nhiều giai đoạn.

Hữu Loan sống và đồng hành với cách mạng từ lúc thành công cho đến khi chính cách mạng tiêu diệt niềm tin, tính tự trọng và nhân cách con người. Và đau đớn nhất là cách mạng đã làm cho nhiều người trở thành vô cảm trước các nỗi đau của xã hội!

Tự thuật của nhà thơ Hữu Loan
“Tôi phải dấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn . . . Dường như càng kèm nén, thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo có tâm sự gì thì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy, chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu, những chữ mộc mạc cứ trào ra :

Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh . . . .
Tôi về không gặp nàng . . .

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào cái quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa . . . Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ “Màu tím hoa sim”.

Đến đây, chắc các bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2 tháng Tư, 1916, hiện tại đang “Ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “Quê đẻ của tôi” đấy, thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi mới viết nổi những câu :

Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt !”

Nguyên văn bài thơ “Màu tím hoa sim”
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như yêu người em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về, cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng người chiến binh
Mấy người đi, trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê.

Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương!

Tôi về không gặp nàng
Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói

Không được nhìn nhau một lần
Ngày xưa, nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa . . .

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân qua những đồi hoa sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa :
“áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu”.

Ai hát vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai, tôi hát trong màu hoa
(Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu . . . . . )

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma
Và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn
Theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu ?
Tôi với vọng về đâu ?
Áo anh nát chỉ dù lâu . . . (1)

Hữu Loan
1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh

Thi sĩ Hữu Loan và phong trào Nhân Văn Giai Phẩm
Trong khoảng thời gian 1956-1957, Hữu Loan tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm cùng với Phan Khôi, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm . . . . . Ông sáng tác những tác phẩm lên án thẳng thắn và quyết liệt sự tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, tham nhũng hay ám hại lẫn nhau để được thăng quan tiến chức. Sau khi phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đưa đi cải tạo vài năm. Tiếp theo ông bị giam lỏng tại địa phương suốt nhiều chục năm, không được góp tiếng nói và tác phẩm với đời!

Trước tiên, vì tình cảm thiêng liêng của thi sĩ Hữu Loan với người vợ mà ông hằng yêu quí bị xúc phạm, nên ông bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho ông bỏ việc, buộc ông phải làm đơn xin. Ông chẳng đếm xỉa gì đến yêu cầu của họ, tự ý làm theo ý của mình. Bài thơ “Màu tím hoa sim” tuy  đem lại tiếng tăm cho Hữu Loan, nhưng cũng đồng thời kéo theo nhiều hệ lụy. Tài làm thơ, học thức cùng với vóc dáng cường tráng của ông đã khiến cho ông bị ganh ghét!
Là chính trị viên của tiểu đoàn, thấy tận mắt những cảnh đấu tố, mạ lỵ và giết chóc địa chủ, ông cảm thấy bất bình và hết sức chán nản! Đây cũng là lý do chính thứ hai để ông chống đối lại cách mạng mà trước đây ông đã mù quáng, lầm lẩn để tham gia một cách nhiệt tình!

Trong cuộc phỏng vấn nhà thơ Hữu Loan của Hương Ly, ban Việt ngữ đài BBC phát thanh ngày 12 tháng Mười, 2002, trả lời tại sao ông bị trù dập vì bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”, ông trả lời: “Bởi vì người ta làm thơ lúc bấy giờ là phải làm về đảng, ca tụng đảng, ca tụng cộng sản, ca tụng cái buôn bán chiến tranh. Bởi vì cái đánh nhau là cái dễ kiếm chác lắm. Mà kiếm chác ở cái chiến tranh ấy thì khó kiểm tra lắm, cho nên cái bọn ăn bẩn ấy là bao giờ cũng chủ trương chiến tranh, buôn bán chiến tranh. Mà tôi thấy cái đấy là cái khổ dân nhất, nên tôi chống cái ấy hết sức. Cũng vì vậy nên tôi làm bài thơ ấy, lúc mà người ta đang một tí là đề cao Hồ Chí Minh, hai tí là đề cao Hồ Chí Minh, buộc làm thơ là phải có Hồ Chí Minh, phải có đảng cộng sản . . . . Còn tôi, làm thơ khóc vợ, nó cho là tôi khóc cho tình cảm riêng . . .”

Sáng tác của Hữu Loan trong Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đặc biệt có hai tác phẩm đáng được để ý, là :

Bài thơ “Cũng những thằng nịnh hót” (Sau khi đọc bài “Những thằng nịnh hót” của Maiakopski), bài thơ trên đăng trong “Giai phẩm mùa Thu, tập II”. Nội dung bài thơ này  biểu dương ý chí bất khuất của tác giả trước những sự bất công và thối nát của chế độ. Năm 1971, ông Kim Nhật cho đăng lại bài này trên Tạp chí Văn Học ở miền Nam, có đề ghi thêm “Để tặng những thằng nịnh hót ở Sài Gòn.”

2)Truyện ngắn “Lộn sòng” đăng trong “Giai phẩm mùa Đông tập I”. Truyện kể lại ký ức của ông trong thời gian ông dạy học tại Thanh Hóa. Nhân vật giáo sư Tuất là một kẻ dốt nát, không có trình độ, lợi dụng vai trò đảng trong chi bộ của trường để có những hành động như: khai man, nâng cấp trình độ học vấn và thành tích công tác của mình để thủ lợi, nịnh hót cấp trên, bới móc những yếu điểm và đời tư cũng như chụp mũ những cái xấu cho đồng nghiệp, để dìm đạp và hại người để mình được đề cao lên và được trọng dụng…

Tự thuật của nhà thơ Hữu Loan
“Mất nàng, mất tất cả. Tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giả văn đàn, về quê làm ruộng. Một phần, cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch họe đủ điều, không chấp nhận sự tự ý từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!”

“Đó là khoảng thời gian từ 1955-1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đang tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ, để kiếm chút cơm thừa canh cặn.

Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng, thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ theo họ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy, họ cho là khóc cái tình cảm riêng…

Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được bốn tháng, ở nhà, vợ tôi đi giặt áo, rồi chết đuối ở sông . . . Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quí, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau, để đùn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi . . . .

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài “Yên Mô” của tôi (viết về tỉnh Yên Bình của nó) ra đọc cho đỡ nhớ. Nhờ vậy mà nó không nỡ giết tôi!

Ngoài bài “Yên Mô”, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về, rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài “Chiếc chiếu”, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

(còn tiếp)

Thế Đại Nguyễn Thái Đệ

(1) Bài thơ này do chính nhà thơ Hữu Loan đọc tại nhà ông, Vũ Toàn ghi lại ngày 12 tháng Mười Hai 2004. Nguồn : http//www.nxckimdong.com.vn?page. Bài thơ này dài hơn 16 câu so với bài thơ đã được phổ biến từ trước đến giờ (trước 1975).

 

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: