Hồng quân Platon Thành vào lính lê dương

Share:

Tống Văn Công
Tháng Năm 1948, tôi học xong lớp nhứt trường tiểu học (ở xã Giao Thạnh, quận Thạnh Phú), chờ ngày thi vào trung học hoặc nhận công tác kháng chiến. Khoảng hạ tuần tháng Sáu có tin bộ đội mới về diễn tập ở cuối xã, thế là cả bọn kéo nhau đi xem. Gặp lúc bộ đội đang nghỉ trong các nhà dân. Tôi chợt nhìn thấy trên cây ổi to trước khoảng sân của ngôi nhà lớn có một chú bộ đội mắt xanh mũi lõ đang trèo hái quả ném xuống cho lũ trẻ.

Chuyện lạ không thể tưởng, thích quá, tôi vội chạy vào. Bác gái chủ nhà bước ra kêu: “Đủ rồi! Chú Thành xuống uống trà đi”. Chú Tây bộ đội trả lời tiếng Việt rành rẽ, “Em không uống trà đâu. Chị cho em vài ly “đế” nhậu với ổi được không”? “Được, để chị nói với anh”. Tôi bám theo: “Anh ơi, anh là người Pháp á”? Anh Tây vui vẻ: “Hổng phải, anh là hồng quân Liên Xô. Em có biết Liên Xô không, là một nước trong phe đồng minh chống phát xít đó”. Tôi đáp, trong giáo trình lớp nhứt tôi có được học điều đó. Từ trên thềm, bác trai chủ nhà gọi anh Tây bộ đội và tôi vào.

Trên bàn đã dọn những đĩa khô cá hố nướng thơm phứt, hai đĩa ổi, mỗi quả bổ làm tư, mấy cái ly nhỏ có chân. Đóng quân ở nhà này là một khẩu đội “mochiê” (súng cối) “mà anh Tây bộ đội là khẩu đội trưởng. Tôi nói, em là học trò tiểu học không được phép uống rượu, chỉ xin các chú bác cho được ngồi hóng chuyện người lớn. Bác gái đem cho tôi mấy con cá khô nướng nhấm nháp.

Câu chuyện được biết về ông Tây như sau: Platon Skizhinsky học xong trung học thì Đức tấn công Liên Xô. Platon vào quân đội, trong một trận đánh không cân sức, bị Phát Xít Đức bắt, buộc đi đốn gỗ. Sau khi Phát Xít Đức đầu hàng, Platon bị Hồng quân kết án tử hình vì tội “bị địch bắt mà không chết”! Trên đường giải về Liên Xô, anh liều nhảy tàu lửa trốn sang Pháp, con đường sống duy nhất là vào lính lê dương. Anh sang Việt Nam trong đoàn quân lê dương, sau tên Platon ghép thêm chữ Thành tiếng Việt. Năm 1946 tại Bến Tre, trên đường lái xe chở thực phẩm, Platon nhận được truyền đơn kêu gọi phản chiến. Sau đó anh liên lạc được với người đại diện Việt Minh tên là Mô, rồi mang hai khẩu súng ra vùng kháng chiến. Sau hai tuổi quân, Platon lập nhiều chiến công, nói thạo cả tiếng lóng của nông dân xứ dừa và được bộ đội cưới cho cô vợ đẹp nhứt Bến Tre, sinh một con gái tên là Tanhia.

Sau khi tập luyện thành thục đúng kế hoạch, Tiểu đoàn 307 kéo lên Giồng Luông, xã Đại Điền long trọng làm lễ xuất quân ngày 5 tháng Bảy, 1948. Vì nơi đó khá xa nên dù rất muốn tôi không thể đi dự. Câu chuyện của chú hồng quân Platon Thành để lại trong tôi nỗi thương cảm lẫn băn khoăn: “Bị địch bắt mà không chết có đáng chịu tội tử hình”? Việc này làm tôi nhớ đến những bản án tử hình đối với anh Sấn, bạn Thạch ở quê tôi. Không ngờ hơn 30 năm sau, năm 1981 tôi đi thăm Liên Xô với tư cách phó tổng biên tập báo Lao Động và được Platon Thành làm phiên dịch cho hơn 20 ngày. Câu nói đáng nhớ của anh khi gặp tôi là: “Năm 1955 tôi rất vui khi được về nước, bởi vì cái thằng cha khốn nạn đó đã chết hơn hai năm”! (Stalin chết năm 1953).

Tôi nhắc chuyện anh leo cây ổi của bác chủ nhà ở Giao Thạnh nơi Tiểu đoàn 307 đóng quân. Platon Thành nói: “các đồng đội ngày xưa sang đây đều mang ổi cho mình. Nhiều người Việt Nam qúy quả xoài, măng cụt, vải, nhãn nhưng theo mình ổi là thứ quả ngon nhất Việt Nam. Buổi trưa, giã đĩa muối ớt, mang một xị đế vào vười ổi lai rai là hết ý”!

Bác hai nói về đảng Cộng Sản và đảng Dân Chủ
Năm 1948 ông Hồ Văn Ngôi, trưởng ty xã hội Bến Tre (Ủy viên thường vụ tỉnh ủy) bổ nhiệm cha tôi làm uy viên kiểm sát Ty Xã Hội tỉnh Bến Tre. Lúc này ông Võ Văn Hưỡn (thời thuộc Pháp là đốc học) bạn cùng xóm và là bạn học của cha tôi đang làm trưởng ty Giáo Dục. Cha tôi xin cho tôi vào làm nhân viên của ty. Phó ty là bác Hai Trần Trung Trực, nhà giáo thời Tây (ba của Trần Trung Tín sau này là họa sĩ nổi tiếng); Trưởng phòng tu thư là bác Ba Lê Văn Trương, nhà giáo thời Tây ở quận Sóc Sải. Hơn chục nhân viên ở tuổi 17, 18. Võ Hoàng Lê sau này là đại tá, bác sĩ, giám đốc Bệnh viện quân đội 175. Lê Huỳnh Thọ sau này là phó trưởng ban Ban tổ chức Trung ương Đảng cộng sản. Cả cơ quan chỉ có 3 nữ là chị Năm Quyến, sau 1975 là bà Sáu, Phó giám đốc Sở văn hóa TP HCM. Chị Bình sau này là mẹ của đạo diễn Việt Linh và Nguyễn thị Định, được gọi là “Định nhỏ” để phân biệt với bà Chủ tịch Hội Nguyễn Thị Định (sau này là Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam). Công việc của số đông nhân viên chúng tôi là viết tài liệu giáo khoa bằng thứ mực pha đậm đặc, sau đó áp lên khuôn bột để in, rồi đóng thành tập, gửi cho các trường học cấp một trong các vùng giải phóng. Từ tháng 8– 1945 đến năm 1951 Bến Tre có nhiều vùng giải phóng. Vùng rộng lớn nhứt gồm toàn bộ quận Thạnh Phú và quá nửa quận Mỏ Cày.

Tôi và Định cùng tuổi, từng cùng học lớp nhứt, nay ngồi cùng bàn, thường nói với nhau đủ thứ chuyện, rồi nảy sinh tình yêu. Nói là yêu nhau, nhưng chúng tôi chưa dám trao cho nhau một nụ hôn! Một hôm, Định hỏi: “Anh có biết trong cơ quan này ai là đảng viên cộng sản không”? Do đã từng công tác ở Hội Phụ Nữ Cứu Quốc tỉnh, nên Định biết rành các tổ chức chính trị. Tôi đáp, không biết và hỏi lại, ở đây ai là đảng viên cộng sản? Định thì thầm: “Chỉ có bác Năm trưởng ty là Cộng sản. Còn bác Hai phó ty, Bác Ba trưởng phòng và anh Chấp phụ trách văn thư đều là đảng viên đảng Dân Chủ. Họ thường tuyên truyền với anh về đảng Dân Chủ mà anh không biết đó! Anh chớ có nghe họ mà xin vô đảng Dân Chủ, đó nghe”! Tôi thắc mắc hỏi tại sao? Định nói: “Đảng Cộng Sản Đông Dương mới là đảng lãnh đạo kháng chiến. Đảng Dân Chủ chỉ là một thứ cây kiểng, không có vai trò gì đâu”.

Một hôm tôi tò mò hỏi Bác Hai Trần Trung Trực phó ty, có phải bác Hai là đảng viên Đảng Dân Chủ không? Bác vui vẻ đáp: “Ừ, mày cũng biết à”? Tôi nói: “Cháu muốn biết Đảng Dân Chủ khác với Đảng Cộng Sản như thế nào”? Bác Hai gõ mấy cái lên vầng trán rộng: “Chà, nói sao cho mày hiểu đây ha”! Bác thò tay vô túi áo lấy ra bao thuốc lá đặt lên đầu bàn, nói: “Coi như cái chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đang ở trên đó. Còn chúng ta đang ở dưới này. Ai cũng muốn đi lên cái ‘thiên đàng’ đó cả. Điều khác nhau là Đảng Cộng Sản gồm những người tả khuynh, họ quyết tiến lên thật nhanh, nên chọn con đường thẳng băng. Gặp núi cao? Vượt núi! Gặp sông sâu? Vượt sông! Đảng Dân Chủ của chúng tao cũng chủ trương đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng gồm những trí thức ôn hòa, muốn đi chậm rãi an toàn nhứt. Núi cao? Ta tránh núi, mở đường đi vòng! Sông sâu? Ta kết bè, đóng ghe hoặc bắc cầu! Rồi thì cũng tới đó thôi. Hai thằng con tao, Trần Trung Hiếu, Trần Trung Tín đang ở bộ đội, tụi nó trẻ, máu nóng, cho nên đều vô Đảng Cộng Sản.”

Nguyễn Thị Định gợi ý và cùng tôi tìm hiểu các chức vụ lãnh đạo của tỉnh, hóa ra tất cả đều do đảng viên cộng sản nắm. Chủ tịch Ủy Ban Kháng Chiến– Hành Chánh tỉnh là ông Nguyễn Văn Diệp, Phó bí thư tỉnh ủy; chủ nhiệm Mặt Trận Việt Minh là ông Phan Triêm, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Tỉnh đội trưởng dân quân tự vệ là Nguyễn Tẩu, ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (trước đó ông là Bí thư tỉnh ủy); Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền là ông Nguyễn Trí Hữu, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng đoàn Văn hóa Kháng chiến là ông Lê Hoài Đôn, Ủy viên Thường vụ phụ trách Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy; Trưởng ty Xã hội là ông Hồ Văn Ngôi, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Trưởng ty Giáo dục là ông Võ Văn Hưỡn, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy; Chủ nhiệm báo Đoàn kết của tỉnh là ông Trần Văn Anh, Tỉnh ủy viên; Tỉnh đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Cứu quốc là ông Trần Chính, Tỉnh ủy viên; Chủ tịch Hội Phụ nữ Cứu quốc là bà Nguyễn thị Định, Tỉnh ủy viên…

Mấy tháng sau bọn trẻ chúng tôi xin thi vào trung học. Tôi và Lê Huỳnh Thọ trúng tuyển. Các trường trung học của kháng chiến đều đóng trong Rừng U Minh. Từ Bến Tre đi bộ tới đó mất hơn nửa tháng và tốn khá nhiều tiền. Tôi nói khó khăn này với cha tôi. Không thể ngờ, cha tôi giải quyết nhẹ như không: Ông xin thôi chức Kiểm sát viên của Ty xã hội, một địa vị “quan cách mạng”, rồi mua mấy ký lô thuốc nhuộm quần áo, mấy chục viên gạch xây bếp lò, một cái chão đụng to, ra đứng giữa chợ Thạnh Phú, lắc cái trống kêu lung tung, miệng rao “Nhuộm đây! Nhuộm áo quần đây”! Hơn một tháng, cha tôi kiếm đủ số tiền cho tôi đi học. Nhưng ông bị coi là thiếu tinh thần cách mạng, phải rời Bến Tre đi vào Cà Mau, kiếm sống bằng việc bứt dây choại đem bán cho những người làm nghề bện đăng, bện đó bắt cá.

Năm 1951, giặc Pháp chiếm hết các quận Mỏ Cày, Thạnh Phú, ty giáo dục phải giải thể. Nguyễn Thị Định chạy lên Sài Gòn, học trường sư phạm, ra trường làm cô giáo ở Trường Bông Sao, quận 8 và lấy chồng là một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa.

Tống Văn Công
Trích cuốn “đến già mới chợt tỉnh”
có bán tại Saigon Nhỏ

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: