Mắm

Share:

Song Thao

Tôi có một chàng rể người Pháp chính cống, dân miền Nam nước Pháp. Ăn cơm gia đình ở nhà, chàng này luôn muốn thử các món ăn của Việt Nam. Thấy giữa bàn có chén nước mắm ớt, chàng múc một đầu muỗng nếm thử, khen ngon. Sau đó chàng làm tuốt, mắm ruốc, mắm tôm, không loại trừ một thứ nào. Khi tới lúc ăn là bắt buộc phải có chén nước mắm thì hết thuốc chữa. Nước mắm và mắm đã chinh phục khẩu vị của anh chàng Tây chính cống.

Ông Nguyễn Đăng Hưng, một người Việt du học bên Bỉ từ năm 1960, cũng có hoàn cảnh tương tự. Ông có hai chàng rể và một nàng dâu người Bỉ chính cống. Cả ba đều bị nước mắm bắt hồn. Bữa cơm nào cũng phải có chén nước mắm đặt giữa bàn.

Nước mắm là một thứ quân xâm lược. Đụng vào chỉ có cách quy hàng. Có lẽ trên đời ít có người oai hùng như ông bạn Luân Hoán của tôi. Ông không quy hàng nước mắm. Ông đối nghịch cật lực với tôi. Tôi khoái tất cả các loại mắm. Cứ có mắm là…hạnh phúc. Ông Luân Hoán thì sợ nước mắm, nói chi tới mắm. Trên bàn ăn có hũ nước mắm là ông đẩy ra xa. Làm như nước mắm là thuốc vậy. Nhiều khi  tôi tự hỏi không biết ông ấy có phải là người Việt không!

Người Việt hầu như ai cũng nghiện mùi nước mắm. Xa quê hương càng nhớ nước mắm hơn. Nhưng chưa xa quê hương đã sợ xa nước mắm thì có ông Nguyễn Đăng Hưng. Ông kể lại: “Tháng 12 năm 1960 ngày tôi lên đường xuất dương du học, tôi đã theo lời dặn của ba tôi:“Vì không biết bên Bỉ người ta ăn uống ra sao, con nên đem theo nước mắm phòng những khi thèm thức ăn Việt Nam mà xứ người không đáp ứng được”. Tôi chuẩn bị một chai dài chứa đến hai lít nước mắm, đóng nút thật kỹ lưỡng chắc chắn, mang theo trong valise hành lý. Tôi tranh thủ những lúc không làm phiền người Bỉ chung quanh, dùng bữa trong phòng trọ, rót ra chút nước mắm làm nước chấm khi có trứng chiên hay thịt nướng. Hai anh bạn đi cùng chung các xuất học bổng của Vương Quốc Bỉ, một người gốc Bắc, một người gốc Nam rất là vui mừng khi đánh hơi có mùi nước mắm trong phòng trọ của tôi. Hồi ấy chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có cách xử lý phân phối học bổng rất công bình chia các xuất học bổng ra làm ba. Vì Chính phủ Bỉ năm ấy chỉ tặng Miền Nam có 3 xuất, ba du học sinh chúng tôi Nam Bắc Trung có dịp đi chung, học chung, sống chung, đoàn kết một nhà cùng thích nước mắm, tại đất khách quê người.”

Vựa nước mắm thùng gỗ

Xa quê hương, yêu nhau bằng nước mắm. Chai nước mắm, dù có tới hai lít, được trù cho một người dùng, nay phải tăng lên thành ba người nên tốn bộn. Ba người thuê chung một nhà trọ tại Liège. Chủ nhà là một người Nga. Chỉ ít lâu sau, chai nước mắm đã vơi hơn phân nửa tuy ăn rất tằn tiện. “Bỗng một ngày chủ nhật đẹp trời, trong khi chờ đợt kết quả thi tuyển, chúng tôi cùng nhau chuẩn bị một bữa ăn ngon, lấy lại sức, sau những ngày học hành căng thẳng. Khi lấy chai nước mắm ra dùng cho việc ướp thịt thì hỡi ơi, chai trống không, không còn một giọt. Hỏi ra mới biết lý do. Bà chủ người Nga trong lúc dọn dẹp phòng khi chúng tôi đi vắng đã tìm ra nguyên do của cái mùi khó chịu trong phòng: chai nước mắm. Bà ta nghĩ là bọn trẻ chúng tôi lơ đễnh không làm vệ sinh rốt ráo nên đã trút hết phần còn lại của chai nước mắm vào bồn cầu rồi không quên rửa chai sạch sẽ để lại chỗ cũ!”.

Tình yêu nước mắm bị một cú nặng, ông Hưng nháo nhào xin visa, đáp xe lửa qua tới Paris, cách Liège gần 400 cây số để mua nước mắm. Thứ ông mua được không thể gọi là nước mắm. Hay ít nhất, không phải nước mắm Việt Nam. Ký giả Quang Lộc kể chuyện mới xảy ra vào Tháng Hai 2019 khi Hà Nội tổ chức cuộc họp thượng đỉnh Hàn- Mỹ giữa anh Trump và anh Ủn. Một ký giả Pháp qua làm phóng sự hội nghị, trên đường trở về Pháp, đã tweet cho ông Quang Lộc tỏ ý tiếc không mua được nước mắm đem về Pháp. Ông Lộc tweet lại: “Ông còn dừng chân ở Bangkok vài bữa, bên đó thiếu gì nước mắm”. Ông ký giả Pháp trả lời: “Ồ không! Không! Thứ tôi cần là thứ nước mắm Việt Nam sản xuất trong các thùng gỗ kia!”.

Bangkok làm chi có thứ nước mắm thùng gỗ. Đó là thứ nước mắm mà mẹ tôi vẫn gọi bà bán nước mắm rong quen vào nhà để mua. Bà này có nhiều loại nước mắm đựng trong những chiếc lọ sành. Nước mắm được đong bằng những chiếc cóng tre có cái cần dài. Mùi nước mắm vang lên khi mẹ tôi nếm từng loại nước mắm. Nếm xong, so giá, mẹ tôi mới mua. Trên mâm cơm, chén nước mắm đẹp màu hổ phách, tỏa ra một mùi thơm nhè nhẹ pha lẫn mùi đặc trưng của nước mắm. Hoạt cảnh mua nước mắm của mẹ tôi chỉ mới xảy ra cách đây vài chục năm nhưng, với tôi, như đã là chuyện cổ tích. Ngày nay, nơi xứ người, làm chi còn thứ nước mắm chân truyền của thời đó.

Nói tới nước mắm Việt Nam phải kể ngay ra những Phú Quốc hay Phan Thiết. Tôi chưa từng ra Phú Quốc nhưng đã chạy xe trên quốc lộ xuyên qua Phan Thiết. Vào tới địa phận của thứ nước mắm chân truyền này, mùi nước mắm nồng nặc trong không khí. Phải thú nhận là ngày đó tôi không mặn mà chi, khi phải chạy qua vùng này. Nhưng nay nhớ lại, bỗng thèm cái mùi quê hương đó.  

Nước mắm thủy chung giữ được hồn người Việt nhưng cũng lả lơi quyến rũ được người ngoại quốc. Nhà thơ Mỹ Bruce Weigl là một người dại…mắm. Ông đã ở Việt Nam trong thời chiến. Bữa đó, ông đang ở tại một căn cứ của Đệ Nhất Lữ Đoàn Kỵ Binh Hoa Kỳ cách Huế 35 cây số về phía Bắc thì bị hỏa tiễn tấn công. Sau đợt pháo kích, ông ngửi thấy một mùi nồng nặc mà mũi ông chưa bao giờ ngửi thấy trong cuộc đời nhiều chuyển dời của ông. Lúc đó ông nghĩ là phải có một xác chết của người hay thú vật đã bị thối rữa nằm gần đó. Ông kể lại: “Tôi không kìm nén được cơn ho dữ dội, cơn ho đã khiến tôi phải hít thở rất sâu, và điều đó làm tôi mắc nghẹn và tiếp tục ho không thể kiềm chế. Tôi di chuyển càng nhanh càng tốt xa khỏi cái lều đã bị tên lửa đánh trúng, nơi mà những người lính Việt đã trữ một lu nước mắm trên 80 lít, một thứ không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt. Sau đó tôi mới biết điều này, và biết rằng lu nước mắm đậm đặc đó bị mảnh tên lửa bắn vỡ. Nước mắm tràn vào lều, chảy xuống chiếc mương nhỏ gần đó. Nhưng có điều gì trong cái mùi nồng nặc đó làm tôi thích và nó lưu lại trong tôi”. 

Bruce Weigl, nhà thơ Mỹ từng đoạt giải Pulitzer mê nước mắm

Ông được những người lính Việt cho ăn thử. Họ xới một bát cơm, chan vào chút nước mắm và mời ông ăn. Ông xuýt xoa: “Thật là ngon: một sự phối hợp tuyệt vời giữa sự đậm đà và ngọt ngào, và sự trù phú của một dòng sông chảy về bóng tối nơi thời gian chiếm hữu”.

Cuối năm 1968, Bruce Weigl trở về Lorain, tiểu bang Ohio, quê hương của ông, mà không quên được mùi nước mắm. Một bữa ông câu được ba con cá hồi loại lớn. Khi làm cá, ông ngửi thấy cái mùi tanh tanh và cơn nhớ nước mắm nổi lên. Ông  nhớ lại câu chuyện với một người lính Việt Nam về cách làm nước mắm tại nhà. Ông dựng một dàn phơi cá đã ướp muối, kê một chiếc chảo ở phía dưới để hứng thứ nước cá rỉ ra. Vài bữa sau, hàng xóm nhốn nháo kêu cảnh sát vì nghi có người chết ở xó xỉnh nào đó. “Đứng giữa con phố, ban đêm, xung quanh tôi hàng xóm đang đứng tụ tập như thể một nghi lễ, những chiếc sân nhà đầy cảnh sát, tôi hít hơi thở sâu đầu tiên từ khi tôi ra ngoài. Tôi biết ngay vấn đề, và báo cảnh sát và một số hàng xóm đi theo tôi đến giàn phơi, đằng sau garage ô tô của cha tôi. Trước khi họ thấy cảnh tượng phơi cá của tôi, họ choáng váng bởi mùi nồng nặc và buộc phải quay chân. “Đấy là xác chết của anh” người cảnh sát thường tuần tra khu vực của tôi đứng đằng xa và nói, chỉ tay vào những con cá đang thối rữa. Sau khi mọi việc đã được giải quyết với cảnh sát và với những người hàng xóm tốt bụng của tôi, tôi hứa với họ rằng tôi sẽ tiêu hủy những con cá càng sớm càng tốt”. Hứa vậy nhưng ông đâu có thể rời xa được mùi mắm. Ông bỏ chúng vào nồi, nấu lửa thật nhỏ, thật lâu cho tới khi cá nát bấy biến thành chất lỏng. Ông dùng một chiếc rây lược bỏ xác cá và nấu tiếp cho tới khi “màu của chất lỏng trở nên giống màu mặt trời trước khi lặn xuống chân trời”. Ông đổ thứ nước mắm của ông vào một chiếc chai nhỏ, đậy nắp thật kín và giấu trong phòng ngủ. “Tôi dùng nước mắm một cách bí mật cùng thức ăn, nhưng luôn luôn phải rất cẩn trọng vì mùi của nó rất nặng và vì cảnh sát đã đến thăm hỏi tôi chính vì cái mùi đó”.

Tội nghiệp nhà thơ! Người tình nặng mùi đã hớp hồn ông. Dân Việt Nam chúng tôi biết đó là cái mùi khó ngửi nhưng đó cũng là cái mùi mà chúng tôi gọi là “quốc hồn quốc túy”. Phải bịt mũi mà thương. Cứ như cưới được bà vợ yêu có mùi nồng nàn từ vùng phía dưới nơi tiếp nối giữa thân mình và cánh tay. Khi đã quen hơi bén mùi rồi thì chịu. Không cách chi rời xa được. Cái mùi vừa muốn tránh xa vừa muốn xáp lại gần khiến cho tình yêu nước mắm của chúng ta thêm hấp dẫn. 

Cái mùi của nước mắm đã đi vào một giai thoại văn học khi ông Cao Bá Quát hạ hai câu thơ: “Ngán thay cái mũi vô duyên / Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An”. 

Nghệ An không phải là nơi sản xuất nước mắm nổi tiếng như Phú Quốc hay Phan Thiết. Làng nghề nước mắm ở Nghệ An là làng Vạn Phần. Hàng năm có tới hàng trăm con thuyền chở nước mắm từ Nghệ An đi bán khắp nước, cả tới Hà Nội. Bởi vậy nên  Hà Nội mới có Vạn Mắm ở sát sông Hồng, nơi đón những thuyền mắm từ Nghệ An ra. Nước mắm Nghệ An là loại nước mắm ngon, “mắm Nghệ, lòng giòn, rượu ngon, cơm trắng”. Thuyền là thuyền buồm nên phải di chuyển theo con gió. Vậy nên nước mắm có bán hết hay không, thuyền cũng phải theo gió Đông Nam quay trở lại Nghệ An. Số nước mắm ế được dân Kẻ Chợ mua với giá rẻ để bán lại dần. Vậy nên tới đời vua Thiệu Trị, trong 36 phố phường Hà Nội mới có phố Hàng Mắm. Trong cuốn “Một Chiến Dịch ở Bắc Kỳ”, xuất bản năm 1892, Bác sĩ Hocquart đã viết về phố Hàng Mắm hồi đó: “Con phố với những mái nhà lô xô, không nhà nào có cửa sổ. Những tấm phên nứa che nắng lấn ra mặt đường chỉ để lại một lối đi nhỏ. Họ bán các loại mắm, từ mắm tôm đặc, mắm tôm loãng đến nước mắm, cá khô, vịt muối. Mùi mắm xông lên nồng nặc”. Mang cái mùi nồng nặc đó ra sánh với thơ, Cao Bá Quát quả là thâm. “Câu thơ thi xã” là thơ của thi xã Mặc Vân do Tùng Thiện Vương Miên Thẩm và Tuy Lý Vương Miên Trinh, con vua Minh Mạng thành lập.

Phố Hàng Mắm, Hà Nội xưa

Giai thoại thơ và mắm này ai cũng biết nhưng nhiều nhà nghiên cứu sau này đã đặt ra nhiều nghi vấn. Bởi vì đã có thời chính Cao Bá Quát cũng là một thành viên của Mặc Vân thi xã. Dzậy là sao?

Giáo sư Phan Đăng ở Huế luận như sau: “Hội thơ này dù từng bị Cao Bá Quát chê: “Ngán thay cái mũi vô duyên / Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An !”, chẳng qua là do tính khí kiêu mạn của ông, nhưng khi vào làm quan ở Huế, Cao cũng được vua Tự Đức và các ông hoàng thơ, các thành viên của Mặc Vân thi xã đánh giá rất cao về tài văn chương của ông và ông đã trở thành người bạn thơ của hội thơ này. Tương truyền vua Tự Đức cũng từng khen Cao rằng: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”. Có thể lời đánh giá này cũng nhằm đề cao thời đại mình, nhưng cũng không phải là ngoa”. 

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Chân Quỳnh cũng thắc mắc: Tuy nhiên, không thiếu gì người chép Cao Bá Quát là bạn tri kỷ của Tùng Thiện Vương. Đặc biệt khi ông đổi đi làm Giáo thụ Quốc Oai, Tùng Thiện Vương nhờ ông đề Tựa cho tập thơ mới sáng tác, ông đã viết bài Tựa hai trang. Xưa nay người ta viết Tựa để khen, dù là khen dè dặt chứ không ai viết để chê. Một mặt Cao chê thơ Thi Xã, mà Tùng Thiện Vương làm Minh chủ, nặng mùi, mặt khác lại khen thơ Vương và làm bạn tri kỷ của Vương, mâu thuẫn là ở chỗ ấy. Sở Cuồng giải thích là trước kia Cao vẫn tỏ ý khinh thị hai anh em Vương, nhưng nhờ hai Vương đều trọng tài ông và tính khí độ lượng, nên về sau cảm hóa được ông trở thành bạn và gia nhập Thi Xã. Tuy cách giải thích cũng có lý nhưng tôi vẫn thấy bất ổn. Người ta chỉ nói Cao Bá Quát rất mực thông minh và kiêu ngạo không thấy ai nói ông “tiền hậu bất nhất”. Đã chê tất phải thấy thơ không hay, rồi vì cảm tình riêng mà bỗng chốc thơ không hay lại hoá hay thì khó mà tin được. Mấy câu thơ trên chắc cũng là ngụy tạo”. 

Danh nhân Cao Bá Quát

Vậy hai câu thơ này thuộc loại dỏm, tiếng thời thượng gọi là fake poem chăng? Tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh tin như vậy. Bà đưa ra trường hợp một câu đối khác rất nổi tiếng được gán cho Cao Bá Quát. “Ba hồi trống giục đù cha kiếp / Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời!”. Theo bà Chân Quỳnh, đôi câu đôi này có khẩu khí của Cao Bá Quát nhưng sự thực về cái chết của Cao Bá Quát lại khác. Ông không bị đưa ra pháp trường! Theo cuốn sử “Đại Nam Thực Lục Chính Biên” của triều Nguyễn thì năm 1854, Cao Bá Quát bị “suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Vua Tự Đức hạ lệnh bêu đầu ông khắp các tỉnh miền Bắc rồi bổ ra ném xuống sông. Sau Quang được thăng lên Cai Đội”.

Vậy là những câu đối và câu thơ biếm nhẽ “câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An” đều là dỏm hết. Thơ chẳng vương mùi mắm. Thơ là thơ, mắm là mắm, chẳng thể nhập nhằng được. Ông Luân Hoán vững  bụng nhé. Từ nay chẳng cần phải bận tay đẩy lọ nước mắm ra xa nữa!

07/2019

Website: www.songthao.com

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: