NHỮNG NGƯỜI LÍNH GIÀ KHÔNG BAO GIỜ CHẾT…

Share:

Lá thư San Jose viết về ngày Quốc Hận.

Hạ Bá Chung

LTS. Cựu Trung Tá Hạ Bá Chung tốt nghiệp khóa 10 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, nguyên Trưởng Khối Sĩ Quan Liên Lạc Đồng Minh thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 24 Lục Quân Hoa Kỳ trên lãnh thổ vùng I chiến thuật.

Ngoài xã hội dân sự, ông là Cựu Giáo Sư Hội Việt Mỹ, Giám Đốc trường Anh Văn Tinh Hoa tại Đà Nẵng, và Hiệu Trưởng Trung Tâm Sinh Ngữ Lê Lợi tại Saigon.

Ngàn vạn người lính già trên thế giới, bất kể màu da, bất kể sắc tộc, bất kể địa phương nào, mỗi khi nghe lời nói vang vọng lên, “Những người lính già không bao giờ chết”, thì tự đáy lòng họ dâng lên nỗi niềm vừa ưu tư vừa ngọt ngào của một thời tay cầm vũ khí, khoác áo chiến y, xông pha trong vòng lửa đạn để bảo vệ tổ quốc thân yêu.

Đại Tướng Douglas Mac Arthur trong Thế chiến I

Ý nghĩa câu, “Những người lính già không bao giờ chết” thật trong sáng, ai cũng hiểu là, có người lính già nào mà không chết đâu! Tuy vậy, họ vẫn sống mãi trong lòng dân tộc vì họ đã hy sinh đời mình để bảo vệ hạnh phúc của người dân.

“Old soldiers never die. They just fade away.” Vế câu đầu đã mang lại cho người lính niềm tự hào. Vậy vế thứ hai, “They just fade away,” muốn nhắn nhủ gì với hậu thế của Đại Tướng Douglas Mac Arthur? Hầu hết các sách báo thường dịch là, “Những người lính già không bao giờ chết. Họ chỉ mờ nhạt dần đi,” hay, “Những người lính già không bao giờ chết. Họ chợt biến mất.” (1) Có đúng vậy sao? Chẳng nhẽ lời nói của Đại Tướng Mac Arthur, Tư Lệnh Quân Đội Đồng Minh trong chiến tranh Triều Tiên, đã làm rơi lệ của các dân biểu, thượng nghị sĩ lưỡng viện Hoa Kỳ mà lại có phần ngơ ngẩn như vậy sao?

Chi bằng mời bạn đọc cùng tôi giở lại vài trang tài liệu để trả câu ngạn ngữ này vào trong bối cảnh lịch sử …

“Old soldiers never die…” là một ngạn ngữ tiếng Anh ở trong bài hát được truyền tụng trong dân gian:

Old soldiers never die,

Never die, never die.

Old soldiers never die.

They simply fade away.

Ngạn ngữ này được nổi tiếng khắp thế giới, vì Đại Tướng Douglas Mac Arthur đã đề cập tới trong bài diễn văn điều trần trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, trước khi giã từ quân ngũ vào sáng ngày 19 tháng 4 năm 1951.

Vào ngày 11 tháng 4 năm 1951, Tổng Thống Harry Truman cách chức Đại Tướng Mac Arthur và tước vị Tư Lệnh Binh Đoàn Hoa Kỳ trong chiến tranh Triều Tiên, chỉ vì Tướng Mac Arthur đã công khai chỉ trích Tổng Thống Truman từ chối sự yêu cầu của ông ta về việc sử dụng bom nguyên tử, tiêu diệt quân cộng sản Tàu để trả đũa chúng đã gởi quân sang Triều Tiên chống lại quân đội Hoa Kỳ.

Tướng Mac Arthur triệt để tin tưởng rằng, nhằm ngăn chận quân đội Cộng Sản tràn xuống vùng Đông Nam Á, Hoa Kỳ phải ném bom nguyên tử tiêu diệt quân đội Trung Cộng. Tướng Mac Arthur còn viết một lá thư chỉ trích quyết định của Tổng Thống Truman nhằm né tránh chiến tranh trực tiếp với Trung Cộng. Lá thư này được gởi tới đảng Cộng Hòa đang nắm đa số tại Quốc Hội, Chủ Tịch Hạ Viện của đảng Cộng Hòa, ông Joseph William Martin Jr lớn tiếng đọc lá thư này trước Đại Hội Đồng Quốc Hội vào ngày 5 tháng 4 năm 1951. Sáu ngày sau, Tổng Thống Truman, đảng Dân Chủ, cách chức Đại Tướng Mac Arthur, đảng Cộng Hòa.

Quốc Hội dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Hòa mời Đại Tướng Mac Arthur đọc diễn văn trước Hội Đồng Lưỡng Viện vào ngày 19 tháng 4 năm 1951.

Sau đây là tóm lược bài diễn văn…

Rất nhiều quốc gia trên thế giới, đang nghe qua đài phát thanh là, Đại Tướng Douglas Mac Arthur đã điều trần trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ vào trưa ngày thứ Năm 19-4-1951. Hội Đồng Lưỡng Viện Quốc Hội vô cùng sững sờ khi thấy Đại Tướng Mac Arthur vừa bị cách chức Tư Lệnh tại mặt trận Triều Tiên, vài ngày trước đây do sắc lệnh của Tổng Thống Truman. Khi Tướng Mac Arthur dứt lời, hội trường đông nghẹt người, đều rơi lệ và đứng lên vỗ tay liên miên không dứt.

Nhiều nhà lập pháp tiên đoán, Tướng Mac Arthur sẽ là ứng cử viên Tổng Thống đầy triển vọng của đảng Cộng Hòa vào kỳ bầu cử Tổng Thống vào năm 1952 sắp tới.

Sự khủng hoảng chính trị kéo dài nhiều tháng, khi đó tướng Mac Arthur còn có tự do lựa chọn kế hoạch hành quân, tiến đánh liên quân Bắc Triều Tiên – Trung Cộng trong suốt 10 tháng khắp nơi trên lãnh thổ Triều Tiên. Quân Bắc Triều Tiên đã xâm nhập miền Nam vào ngày 20-6-1950, tiến đánh như vũ bão, đẩy lùi quân Nam Triều Tiên khắp mặt trận. Do Hoa Kỳ kiến nghị, Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc nhanh chóng chấp thuận tung quân ra ngăn chận sự xâm lược.

Người lính già nhìn lại…

Tướng Mac Arthur, Tư Lệnh tối cao của Lực Lượng Đồng Minh đang trú đóng tại Tokyo, được ủy nhiệm quyền chỉ huy. Tuy vậy, Liên Minh Hoa Kỳ – Nam Triều Tiên vẫn bị đẩy lui gần như bật ra khỏi lãnh thổ Triều Tiên vào tháng 8, chỉ còn bám giữ ở một chu vi nhỏ hẹp ở phía Đông Nam hải cảng Pusan. Tình thế rất là ảm đạm.

Thứ Tư ngày 13 tháng 9, tướng Mac Arthur chuyển bại thành thắng, bằng cuộc đổ bộ đầy mạo hiểm và dũng cảm về phía Tây cảng Inchon, rất gần thủ đô Seoul, chớp nhoáng cắt đứt đường tiếp vận của quân Bắc Triều Tiên, chuyển tới mặt trận ở phương Nam.

Ngay sau đó, lực lượng liên minh Liên Hiệp Quốc, mũi nhọn là quân đội Hoa Kỳ, đẩy lui liên minh Bắc Triều Tiên – Trung Cộng tới sát bờ sông Yalu gần biên giới Triều Tiên và Trung Cộng.

Đại Tướng Mac Arthur và Tổng Thống Truman đáp phi cơ đến đảo Wake trên Thái Bình Dương để hội ngộ và đặt kế hoạch tiếp theo cho cuộc chiến.

Tuy nhiên vào tháng 11, mặt trận lại biến động dữ dội vì lực lượng “chí nguyện quân” Trung Cộng tấn công khắp mặt trận trên tuyến đóng quân của liên minh Liên Hiệp Quốc trong một mùa đông vô cùng băng giá. Quân miền Bắc đẩy lui quân miền Nam ở khắp mặt trận. Trong năm 1951, mặt trận dưới mô hình cài răng lược, hai bên dàn quân đối đầu dọc theo vĩ tuyến 38. Tình thế rơi vào bế tắc, vì chẳng có lực lượng bên nào có khả năng tiêu diệt bên kia.

Để giải quyết bế tắc trong trận chiến này, Tướng Mac Arthur đã thất bại trong việc yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận một trong hai kiến nghị.

Một là điều động quân Trung Hoa Đài Loan do Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, Quốc Dân Đảng lãnh đạo, vừa tháo chạy ra khỏi lục địa 2 năm trước đây, được tham chiến ở mặt trận Triều Tiên.

Trận chiến thời chiến tranh Triều Tiên

Hai là sử dụng lực lượng ưu thế của không quân thả bom tàn phá các căn cứ tiếp vận của cộng quân trên lãnh thổ Trung Cộng, nhằm cắt đứt nguồn tiếp tế của cộng quân ngoài mặt trận.

Dưới sự chỉ đạo của Tổng Thống Truman, Bộ Tổng Tham Mưu bác bỏ kiến nghị trên, chỉ chủ trương giới hạn cuộc chiến này ở mức độ quân bằng, bên ta tăng thêm quân thì bên địch cũng tăng thêm quân, mức tổn thất sẽ cao hơn, và lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới giữa hai miền Nam, Bắc Triều Tiên.

Tình hình như vậy làm Tướng Mac Arthur nôn nóng, bèn quay sang cầu cứu các nhà lập pháp Hoa Kỳ, đi theo con đường dân sự để giải quyết vấn đề quân sự, qua sự hỗ trợ của đảng Cộng Hòa để gây áp lực với Tổng Thống Truman nhằm mở rộng thành phần quân đội đồng minh tham chiến ở Triều Tiên. Và chuyện thường lệ xảy ra ở Hoa Thịnh Đốn, xưa nay là vậy, vài lá thư của Tướng Mac Arthur trao đổi với lãnh đạo của đảng Cộng Hòa, bị lọt vào tay của giới truyền thông Hoa Kỳ.

Tổng Thống Truman kết tội Tướng Mac Arthur bất tuân hệ thống quân giai vì đã đi tìm đường hướng chính trị để thực hiện giải pháp quân sự. Bộ Tổng Tham Mưu cuối cùng đồng thuận bỏ phiếu là, Đại Tướng Mac Arthur phải bị cách chức và thay thế. Tổng Thống Truman chấp thuận và Tướng Mac Arthur giã từ quân đội trở về quê nhà và hơn 10 năm sau, không một ai trông thấy ông ta ở đâu cả.

Trở lại tháng 4 năm 1951, Tướng Mac Arthur được mời đến đọc diễn văn trước Hội Đồng Lưỡng Viện Hoa Kỳ.

chuchung1.jpg
Tác giả Hạ Bá Chung năm 1973

Đây là bài diễn văn quan trọng nhất của Tướng Mac Arthur, tóm lược cuộc đời binh nghiệp của mình và những lý lẽ chính yếu trong cuộc tranh luận với Tổng Thống Truman về cuộc chiến tranh đẫm máu ở Triều Tiên. Ông ta biểu lộ vô cùng cảm ơn các vị dân biểu, thượng nghị sĩ, đã lắng nghe ông ta và tuyên dương công trạng xuất sắc của ông ta như một vị anh hùng kiệt xuất trong thời chiến và người dân Hoa Kỳ cũng đồng lòng như vậy. Cuối bài diễn văn, lời trần tình của ông ta nói lên sự chấm dứt cuộc đời binh nghiệp và giã từ quân đội.

Ngày nay (năm 2004), nhiều người dân chắc chắn ủng hộ quyết định của Tổng Thống Truman đã không sử dụng bom nguyên tử tiêu diệt liên minh quân Cộng Sản nhằm tránh Thế Chiến lần thứ III và nhìn nhận sự cách chức Tướng Mac Arthur thuộc về quyền hạn của một vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội.

Nhưng năm 1951, Tổng Thống Truman cách chức Tướng Mac Arthur có nhiều khả năng gây ra tranh luận là, Tổng Thống Truman đã làm như vậy vì nhằm đạp đổ một thần tượng của đảng Cộng Hòa, một ứng cử viên Tổng Thống đầy triển vọng vào năm 1952 sắp tới.

Để giải thích rõ ngạn ngữ, “Old soldiers never die. They just fade away”, có lẽ chúng ta phải luận cứ vào đoạn cuối bài diễn văn, được đọc trước Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ của Đại Tướng Mac Arthur. (2)

“Khi tôi gia nhập quân đội Hoa Kỳ, khoảng đầu thế kỷ XX, đó là những hy vọng và mơ ước thời niên thiếu của tôi, đã trở thành hiện thực. Thế giới đã thay đổi trầm trọng kể từ khi tôi tuyên thệ tại Vũ Đình Trường của Học Viện Quân Sự West Point, và những hy vọng và mơ ước ngày xưa đã tan biến. Nhưng tôi vẫn nhớ được điệp khúc của một bài hát trong dân gian, được phổ cập trong doanh trại lính ngày đó. Điệp khúc nói lên niềm kiêu hãnh tuyệt vời là, “Những người lính thời chiến tranh (old soldiers) không bao giờ chết,” nhưng thời gian lặng lẽ trôi qua, người đời sẽ lãng quên họ.” Và cũng như người lính già trong bài ca dân gian này, giờ đây tôi giã từ cuộc đời binh nghiệp và rồi thời gian cũng trôi qua, người đời sẽ quên tôi, quên đi một người lính trong thời chiến, đã cố gắng hoàn thành trách nhiệm của mình, vì Đức Chúa Trời đã giao phó cho hắn, dưới ánh sáng của Chúa để nhìn thấy rõ nhiệm vụ của mình. Chào Tạm Biệt.”

Bích họa của Thomas Michael Conner

Trời đã về khuya. Không gian vùng chân núi Niles, Fremont Bắc Cali thật êm ả, tỉnh mịch.

Bài viết xong, người lính già Khóa 10 Võ Bị Đà Lạt buông cây viết xuống, thong thả pha một bình trà, vừa nhâm nhi trà nóng, vừa đọc lại bài viết, chợt thấy cảm thông được lời nói của Tướng Mac Arthur, “Old soldiers never die. They just fade away,” còn có ẩn dụ một ý nghĩa là, “chỉ cần người đời còn nhớ đến những người lính thời chiến tranh, họ sẽ không bao giờ chết.

Nhưng thử hỏi trong mấy chúng ta, có ai còn nhớ tới họ không? Đấy là ẩn ý sau nỗi niềm đầy cay đắng của một vị tướng 5 sao Mac Arthur đã làm các nhà lập pháp Lưỡng Viện Hoa Kỳ, nước mắt tuôn dòng, thương tiếc một vị anh hùng tài trí tuyệt vời, lấy cuộc đời binh nghiệp làm lẽ sống, mà buộc phải giã từ vũ khí vào lúc tuổi mới xế chiều.

chuchung2.jpg

Tiếc thay vòng hào quang rực rỡ của ngạn ngữ, “Những người lính già không bao giờ chết..”, không dành cho những người lính già trong chiến tranh Việt Nam về tham dự Đại Hội Toàn Quân năm 2003…

Chuyện xưa, vào ngày 30-4-1975, hơn một triệu quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tự động tan hàng, vì sự phản bội của quân bạn đồng minh, mặc dầu các nhà quân sự tài ba, đều đánh giá là, kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được xếp hạng thứ 3 trên thế giới. Mất nước, họ sống lưu vong ở nhiều quốc gia, đại đa số tại Hoa Kỳ.

Năm 2003, thành phố Westminster Nam Cali hân hoan đón chào hơn một ngàn đại biểu, đại diện cho các quân, binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ khắp nơi trên thế giới tới họp mặt trong Đại Hội Toàn Quân, nghe theo tiếng còi tập họp của Tướng Lê Minh Đảo, để kết hợp thành một lực lượng dưới danh xưng, “Tập Thể Chiến Sĩ Cộng Hòa Hải Ngoại.” Huy hiệu Đại Hội Toàn Quân 2003

Đại Hội Toàn Quân năm 2003 đã thành công rực rỡ, mang lại niềm tin và kỳ vọng của hơn một triệu người Việt tị nạn Cộng Sản ở khắp năm châu.

Cơ cấu tổ chức Tập Thể Chiến Sĩ Cộng Hòa Hải Ngoại được minh định: một Hội Đồng Đại Diện do Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh làm Chủ Tịch và một Hội Đồng Điều Hợp do tướng Lê Minh Đảo làm Chủ Tịch, nhằm điều hành các sinh hoạt chống Cộng trên các mặt trận chính trị, văn hóa qua các lực lượng xung kích ở 4 khu hội đông dân cư người Việt cư trú là Bắc Cali, Nam Cali, thành phố Houston và khu hội miền Đông Bắc nước Mỹ, và 3 khu hội hải ngoại là khu hội châu Âu, châu Úc và Canada.

Trước một tập thể đầy tiềm năng, đầy uy tín, đầy trí tuệ, đầy dũng cảm như vậy, các bàn tay lông lá của mọi khuynh hướng thù địch, vấy bẩn lên sự đoàn kết của Tập Thể Chiến Sĩ Cộng Hòa Hải Ngoại. Chỉ hai năm sau, Tướng Đảo từ chức, tập thể tan rã.

Các hội đoàn ái hữu tương trợ, trong các quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, rời bỏ Tập Thể Chiến Sĩ Cộng Hòa Hải Ngoại để sinh hoạt riêng rẽ theo lợi ích của hội.

Tôi tốt nghiệp Khóa 10 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam cùng với Tướng Đảo. Mỗi khi Tướng Đảo tới San Jose, đều dành chút thời giờ ăn nhậu, mày mày tao tao, với các bạn cùng khóa. Một hôm, trong lúc tửu nhập ngôn xuất, tôi nghe được tâm sự của Tướng Đảo là, mong muốn thành lập được một hội trí thức trẻ, ưu tú, có danh vọng và tiền bạc trong xã hội Mỹ, trong các hậu duệ của Tập Thể Chiến Sĩ Cộng Hòa Hải Ngoại để hướng dẫn và hỗ trợ họ đi vào sinh hoạt trong dòng chính trị của xã hội Hoa Kỳ, trên con đường dân cử vào Quốc Hội Hoa Kỳ, dù tiểu bang hay liên bang nhằm nói lên tiếng nói của người Việt tị nạn Cộng Sản.

Sau đó, khoảng cuối năm 2004, trong một bữa ăn nhậu tại tư gia của Trung Tá Nguyễn Văn Xuân, bạn cùng khóa ở San Jose, Tướng Đảo lúc đó sắc diện đầy hào hứng, quay sang nói với tôi: “Nè Chung! Tao nhắm vào thằng con Thạc Sĩ Kiến Trúc của mày làm lá bài tẩy (lá bài giấu kín) của tao, để sau này hướng dẫn nó vào Quốc Hội Hoa Kỳ. Tao được biết nó trong ngày Đại Hội Tổng Hội năm 1998 tại San Jose. Khi đó nó đại diện Tổng Đoàn Thanh Niên Đa Hiệu đọc tiểu luận trước đại hội. Vậy là thằng này có tinh thần sinh hoạt đoàn thể. Nó thông minh hoạt bát, phẩm chất thanh tao, nói năng lễ độ là đúng các tiêu chuẩn lá bài tẩy của tao.”

Tôi mỉm cười, thong thả trả lời: “Mày còn quên một điều, muốn sinh hoạt thành công ở viện dân biểu thì lá bài tẩy của mày, điều kiện cần và đủ, là phải tốt nghiệp trường Luật. Tuy nhiên, theo tao biết, cỡ Tiến sĩ Luật thì chưa có, chứ cỡ Thạc sĩ, cử nhân Luật trong đám hậu duệ Võ Bị Đà Lạt chẳng phải là thứ người khó kiếm. Có điều chúng nó có chịu làm lá bài tẩy của mày hay không, lại là chuyện khác.”

Tướng Đảo cười nhẹ, bằng một giọng tự tin nói: “Wait and see. Tao có nguyên tắc của tao. Muốn câu được con cá to, mày phải kiên nhẫn. Thế thôi.”

Cảm hứng tôi viết bài này, cũng là do mấy ngày gần đây, vào đầu tháng 3 năm 2019, các đài truyền hình Mỹ loan tin náo động lên vì lời tuyên ngôn chống Do Thái của một phụ nữ mới ngoài 30 tuổi Ilhan Omar gốc dân Hồi Giáo, vừa đắc cử vào Hạ Viện Liên Bang Hoa Kỳ. Lời phát ngôn giọng điệu chống Do Thái đàn áp sắc tộc Ả Rập, làm Lưỡng Viện Hoa Kỳ nổi sóng to, gió lớn. Đó đúng là đường hướng tranh đấu của các sắc tộc thiểu số, sinh sống trên đất Mỹ. Và đó cũng là tâm tư của Tướng Đảo.

Giờ đây, thử hỏi có bao nhiêu người Nhật ở thành phố San Jose, mà dân biểu liên bang Honda đắc cử mấy nhiệm kỳ liền? Thử hỏi có bao nhiêu người Trung Hoa Đài Loan ở thành phố San Jose mà dân biểu tiểu bang Chu đắc cử mấy nhiệm kỳ liền? Chẳng phải là, họ có cả một cộng đồng nắm chặt tay nhau, đứng ở sau lưng họ sao?

Đăm đăm nhìn vào tách trà tỏa hương thơm ngát, người lính già Khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, lòng nặng trĩu buồn, thầm nghĩ, “Có bao giờ những thành viên cũ trong Tập Thể Chiến Sĩ Cộng Hòa Hải Ngoại ở các khu hội địa phương, lương tâm chợt thức tỉnh, xóa bỏ mọi tị hiềm, dũng cảm ngồi lại với nhau để đồng tâm lựa chọn và hỗ trợ về nhân lực, tài lực và trí lực cho một hậu duệ của Tập Thể Chiến Sĩ Cộng Hòa Hải Ngoại, đắc cử vào Quốc Hội Hoa Kỳ hay không?

Chỉ ngồi lại với nhau mà cũng khó đến như vậy sao?

Thử hỏi, có khó bằng một Tiểu Đoàn Nhảy Dù tử thủ trên ngọn đồi Charlie cao nguyên Trung phần, đã chết tan xác dưới trận mưa hỏa lực pháo kích của các giàn đại bác 130 ly của Việt Cộng không? Thử hỏi, có khó bằng sự tiến chiếm lại cổ thành Quảng Trị, mà gần hai ngàn dũng sĩ Thủy Quân Lục Chiến bỏ mạng trên đường tiến quân sao?

Giờ đây chúng ta sống lưu vong bẽ bàng ở xứ người, ngẩn ngơ nhìn vòng hào quang “Những người lính già không bao giờ chết,” đang chập chờn sắp tắt. Vậy thử hỏi, người đời còn thấy gì đâu, để mà nhớ tới, để mà lãng quên! Có chăng chỉ còn nghe thấy một tiếng thở dài não nuột!

Ca dao của dân tộc Việt:

“Một cây làm chẳng nên non,

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.”

Fremont, ngày 11-3-2019

Hạ Bá Chung

Chú thích:

(1) Trong Đặc san Đa Hiệu số 40, tôi đã viết bài, “Nghệ Thuật Phiên Dịch” diễn giải 3 phương pháp phiên dịch là :

1. Dịch Nguyên bản

2. Dịch Thoát nghĩa

3. Dịch Phóng tác

Hai câu này được chuyển ngữ bằng phương pháp dịch Nguyên bản.

(2) Đoạn cuối bài diễn văn này được chuyển ngữ theo phương pháp dịch Thoát nghĩa. Nguyên văn là: “When I joined the Army, even before the turn of the century, it was the fulfillment of all of my boyish hopes and dreams. The world has turned over many times since I took the oath on the plain at West Point, and the hopes and dreams have long since vanished, but I still remember the refrain of one of the most popular barrack ballads of that day which proclaimed most proudly that “old soldiers never die, they just fade away.” And like the old soldier of that ballad, I now close my military career and just fade away, an old soldier who tried to do his duty as God gave him the light to see that duty. Good-bye.”

Tài liệu tham khảo được trích dẫn từ bài luận án của Chirstopher Sterling lưu trữ tại Văn khố Quốc Gia vào năm 2004.

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: