Phôi pha ‘lễ’ cùng ‘hội’

Share:

Uyên Vũ

Tôi thực sự không muốn trưng dẫn vài bức hình đang được đăng nhiều trên mạng xã hội của người Việt mấy ngày qua (dù là hình không chỉnh sửa và dù để minh họa cho dẫn chứng này) vì nó tởm lợm quá. Những bức hình đó chụp cận cảnh một vài phụ nữ trung niên đang cười đùa, ôm, há miệng, thè lưỡi liếm vào đầu một chiếc dương vật thật lớn sơn màu hồng trong một cuộc lễ hội rước sinh thực khí ở tỉnh Lạng Sơn. Đáng chú ý là người phụ nữ thè lưỡi liếm đó ăn mặc chỉnh tề, trên ngực đeo chiếc thẻ có chữ “Đại Biểu”.

Theo báo điện tử 24h của Việt Nam thì lễ hội đó diễn ra ở đình làng Mỏ (xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn) – nơi tổ chức lễ hội Ná Nhèm với màn rước “của quý” lớn nhất Việt Nam chiếc sinh thực khí nam giới này được mô tả là có đường kính 22cm, dài 1,3m nặng 50kg, còn được gọi là “tàng thinh”. Khác với sinh thực khí nam được đẽo gọt sơn phết “y như thật” thì chiếc sinh thực khí nữ được biểu tượng bằng một vật tròn to bọc bằng tre đan sơn lòe loẹt một hình thái cực đồ kết thêm vài bông hoa giả và khăn voan gọi là “mặt nguyệt”. Cũng theo báo trên thì đây là lễ hội Ná Nhèm, của người sắc tộc Tày, mới được dân làng phục dựng lại gần đây theo truyền thống cổ, lễ hội diễn ra vào rằm tháng Giêng âm lịch, với ý nghĩa mong cho vạn vật sinh sôi nảy nở, con cháu đầy đàn.

Rước sinh thực khí tại lễ hội Ná Nhèm, Lạng Sơn

Những lễ hội phồn thực thờ sinh thực khí nam nữ thực ra không phải điều xa lạ gì, ví dụ như các linh vật Linga và Yoni (theo tín ngưỡng của đạo Hindu là dương vật và âm vật) vẫn được thờ phụng hàng ngàn năm nay (vùng đất miền Trung nơi sinh sống của người Chàm vẫn còn nhiều những hình tượng đó), nhưng thường thì các Linga được tạc như một khối hình trụ có đầu tròn và Yoni thì tạc tròn, bẹt giống hệt như phần đáy cối đá xay bột. Ở miền đất theo Phật giáo Mật tông là Bhutan cũng thế, hình ảnh những chiếc sinh thực khí nam được vẽ rất nhiều trên các vách nhà dân thường. Dương vật ở đây được vẽ với các dải lụa mềm uốn éo bay chung quanh hệt như một hồ lô rượu của tiên ông, hoặc được tạc bằng gỗ đủ mọi màu sắc, kích cỡ, thậm chí còn được chắp thêm cánh bay như một chiếc phi cơ và bán tràn lan ở các cửa hàng lưu niệm. Hoặc như lễ hội rước sinh thực khí vùng Kanayama của Nhật Bản (gọi là Kanamara Matsuri hay lễ hội “Dương vật Thép”) cũng là một lễ hội lớn thu hút rất nhiều du khách. Chiếc sinh thực khí này rất lớn, sơn màu của thép đen được người dân đưa lên kiệu rước như rước một vị thần linh.

Ở Việt Nam, nhất là vùng đất tổ Phú Thọ cũng có nhiều làng tổ chức các lễ hội mang đầy màu sắc phồn thực như “Linh tinh tình phộc”, rước cái “nõn nường” ở sân miếu Đụ Đị, vân vân. Những lễ hội kiểu này càng ngày càng được tổ chức xôm trò trở lại, sau nhiều năm bị nhà cầm quyền cấm đoán. Và như một quy luật, thứ gì càng cấm đoán, càng gây tò mò; càng siết chặt thì càng muốn bung mạnh ra. Lễ hội thờ sinh thực khí ở Việt Nam cũng theo quy luật này, như chiếc sinh thực khí trong lễ hội Ná Nhèm theo lời kể của các cụ già trong làng thì trước kia nó chỉ nhỏ bằng cổ chân, bằng miệng thúng và để mộc không sơn phết thì giờ đây nó mỗi ngày mỗi khuyếch đại và sơn những màu thật nổi rực rỡ. Cái “linh vật” dâng tế thần linh ấy thực sự chỉ để thỏa mãn trí tò mò thô lậu của đám đông hiện tại.

Chuẩn bị nghi thức “Linh tinh tình phộc”, miếu Đụ Đi, Phú Thọ

Nếu như ngày xưa thì chỉ có dân làng – những người được tổ tiên lưu truyền – tham dự, trong một bầu không khí trang trọng, đẫm chất văn hóa riêng đó, thì ngày nay lễ hội thu hút hàng ngàn người xa lạ, tò mò đến xem, như xem một đám đông dân làng đang diễn tuồng! Lễ hội ngày nay đã hoàn toàn bị thương mại hóa trầm trọng, việc thu lợi mới là mục đích chính cho nhà tổ chức. Ngay cả các ngôi chùa nổi tiếng như chùa Đồng trên đỉnh thiêng Yên Tử, nơi phát xuất thiền phái Trúc Lâm hiện tại cũng bán vé hướng chi các ngôi chùa được gọi trắng là “Khu du lịch tâm linh”!

Bởi thế mới có cái cảnh thô lỗ, tục tằn của một phụ nữ “đại biểu” mà tôi kể ở trên. Đó là chưa kể hàng chục phóng viên ôm máy chụp hình lăng xăng khắp chốn và dí máy chụp thật sát “linh vật” trên kiệu. Cũng thế, nếu như lễ hội “Linh tinh tình phộc” xưa diễn ra trong đêm tối, ngôi đình làng thâm u với khoảng vài chục dân làng, họ đến dự như cha ông họ đã từng tham dự… Trong bối cảnh huyền hoặc bí ẩn đó, khi người chủ trì lễ tế ngâm nga những khúc hát xưa, khi người đàn ông cầm “nõn” thúc mạnh vào “nường”, họ thực sự đang làm một nghi lễ. Còn bây giờ, chủ tế hát lõm bõm bài hát xưa, có amplifier, có microphone y hệt đồ nghề của các chàng bán kẹo kéo, bọn trẻ ngồi sát bên thì cầm smartphone cười nhăn nhở ghi lại tập tục, ánh chớp từ đèn flash máy chụp hình lóe sáng rào rào khắp chung quanh… Thử hỏi, cảnh tượng ấy có có còn ra thể thống gì nữa?

Như vậy, những biến tướng của lễ hội làng xem ra chỉ còn nặng phần trình diễn, cái ý tứ sâu xa của tiền nhân coi như đã mai một. Như vậy thì diễn tấu lại làm gì? Như vừa viết ở đoạn trên, tôi cho rằng trong ký ức cộng đồng dân làng vẫn lưu giữ các tập tục xưa, nó không hoàn toàn bị xóa nhòa. Nhưng từ khoảng năm 1945 đến bây giờ, tức hơn 70 năm sau, thì một cụ già dân làng bây giờ hồi ấy chỉ là một đứa trẻ. Liệu cái ký ức ấy có bao nhiêu phần rõ nét để phục dựng lại một tập tục (vốn ít được ghi chép thành văn bản).

Ai cũng biết, lễ hội cấu thành từ “lễ nghi” và “hội hè”, nếu phần lễ nghi không mang lại giá trị tinh thần thì phần hội hè chỉ còn là cái vỏ rỗng tuếch; người ta có thể tổ chức một buổi hội hè vô thưởng vô phạt, như kiểu hội chợ, nhưng như vậy quả là nhàm chán nếu thiếu đi cốt lõi tinh thần, tâm linh mà một lễ hội cần có. Định nghĩa về lễ hội dân gian được biết: Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp văn hóa: phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật, các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc.

 Là một bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt và các giá trị tinh thần của dân tộc, lễ hội có sức sống và sức thuyết phục mạnh mẽ. Bóc tách lễ hội sẽ thấy được nhiều lớp văn hóa sống động trầm tích và được lưu trữ trong đó qua suốt chiều dài lịch sử

 Lễ hội cũng thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, giải trí của con người: Thực hiện các nghi thức trong lễ hội, con người biểu hiện lòng biết ơn đối với trời đất, thần linh, các anh hùng dân tộc. Phần lễ trong lễ hội nông nghiệp thể hiện sự cầu xin và ước vọng về mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống bình yên hạnh phúc.

 Lễ hội mang ý nghĩa cộng đồng và cộng cảm sâu sắc, lễ hội cuốn hút đông đảo mọi người vào những sinh hoạt văn hóa của cộng đồng. Nó gắn bó con người với nhau, đến với lễ hội con người có chung những cảm xúc, những khát vọng. Không gian và thời gian tổ chức lễ hội là không gian và thời gian khác với bình thường. Con người tồn tại trong một hiện thực khác – hiện thực ít nhiều mang tính chất huyền ảo. Lễ hội giúp cho con người xích lại gần nhau trong niềm cộng cảm, niềm vui được hòa nhập với cộng đồng.

Ngoài ra, lễ hội còn mang ý nghĩa dân chủ, nhân bản và giá trị thẩm mỹ cao: Lễ hội xuất hiện từ khi xã hội chưa có giai cấp và tồn tại ở các xã hội văn minh. Tinh thần dân chủ của lễ hội được khẳng định ở chỗ tất cả mọi người, mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong đời sống xã hôi đều được tham gia và bình đẳng. Đến với lễ hội, toàn thể cộng đồng đều hóa thân, nhập cuộc, thực sự thưởng thức và sáng tạo. Khi đó con người được được thực thi khát vọng dân chủ mà ngày thường vì lý do nào đó mà họ không thực hiện được. Không khí trang nghiêm, hồ hởi của lễ hội đã kích thích mọi tài năng, năng khiếu, ý chí vươn lên tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ của con người…

Và như thế lễ hội đưa con người trở về nguồn, về lại những dấu tích lịch sử văn hóa gốc rễ. Điều này những người Việt xa xứ đang cố lưu giữ trong những dịp lễ, tết thuần Việt. Nhưng rõ ràng, một khi thiếu đi cái môi trường và không gian đặc thù của quê hương, tính chất tinh thần lễ nghi đã thực sự phôi pha. Thử hỏi một nghi thức cúng tế tổ tiên dân tộc lại diễn ra trong một nhà hàng seafood máy lạnh, với sân khấu, đèn pha và thứ nhang không khói sẽ mang lại cho người tham dự điều gì? Hay chỉ là chút hoài niệm xưa cũ đang dần phôi pha?. Tôi nghĩ chỉ ít năm nữa, khi thế hệ trẻ sinh trưởng tại hải ngoại lớn lên, chúng chẳng còn thiết tha gì với nghi lễ của tiền nhân nay đã thành xa lạ.

Lại quay trở về xứ Việt, với cảnh nhố nhăng, tục tĩu của “bà đại biểu” cho thấy, những người như bà ta (có lẽ không ít) chỉ góp phần bôi nhọ ý nghĩa cao đẹp của lễ hội. Đó chính là sự tầm thường hóa, là sản phẩm của một xã hội tha hóa, sản phẩm của tầng lớp vô học được tạo thành bởi một xã hội chủ trương loại bỏ Trời Đất của người cộng sản, mà bà ta là một đại biểu.

Suy cho cùng, khi những người cộng sản lên nắm quyền, bằng mọi cách họ đã triệt tiêu niềm tin, tín ngưỡng của người dân. Với những tôn giáo lớn có tính chất nhân loại, dĩ nhiên họ không thể tiêu diệt hoàn toàn, nhưng với các tín ngưỡng dân gian, hành động của những kẻ cầm quyền đã xỏa bỏ căn tính của tín ngưỡng đó, cứ thử quan sát một lễ hội dân gian hiện nay thì rõ. Tôi cũng được nghe vài ví dụ về sự linh thiêng mà kẻ cầm quyền phải bó tay. Chuyện thứ nhất là pho tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Phổ Quang, tượng này vốn nằm trong đất của nhà chùa tôn tạo từ năm 1951 (gần Bộ Tổng tham mưu QLVNCH). Sau 1975, chùa lọt vào tay quân khu 7 của cộng sản Việt Nam, pho tượng vốn an vị trong phần đất nghĩa trang, nhà cầm quyền đã giải tỏa tất cả mộ phần, nhưng mỗi lần đưa xe cần cẩu đến thì xe hư hỏng, hoặc kẻ định đập bỏ gặp tai nạn… Mãi đến năm 1998, các nhà sư mới được phép và liền làm lễ thỉnh pho tượng an vị vào chùa đến nay.

Chuyện thứ hai là tháp chuông và nhà nguyện Fatima Bình Triệu xưa đã bị nhà cầm quyền chiếm đoạt, họ đã biến khu đất thành trường Đại Học Luật, những năm sau, nhà cầm quyền cố gắng phá hủy các di tích cũ nhưng ngọn tháp chuông cao 30m xây dựng từ năm 1966 đến nay vẫn sừng sững không thể hủy hoại, cứ mỗi lần cho cần cẩu, máy móc đến đập thì máy nào cũng hư. Khu đất này còn một căn phòng, vốn là cung thánh của nhà thờ với thánh giá và bàn làm lễ, vì không thể đập bỏ, họ đành bịt kín lại mấy chục năm nay…

Đó là hai câu chuyện ngay tại Sài Gòn, ở những địa phương khác cũng có thể có những chuyện tương tự, cho thấy bên cạnh một xã hội vật chất, máy móc tân tiến hiện đại vẫn có những điều khoa học không thể lý giải. Và nếu để ý sẽ thấy đằng sau những tiến bộ đều có mặt trái của nó, chỉ những tín lý tinh thần bền vững qua hàng ngàn năm mới mang lại giá trị muôn thuở. Tiếc thay, xã hội Việt, người Việt Nam hiện nay đang tự bôi xóa và làm mất đi những giá trị sâu thẳm đó.

Uyên Vũ

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: