Sau Cơn Mưa Hồng

Share:

Hồi ký của người tù cải tạo

Hạ Bá Chung

“Thuở ấy mưa hồng” là đĩa nhạc gồm nhiều bản nhạc chọn lọc thời hoàng kim của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, qua tiếng hát truyền cảm của nữ danh ca Khánh Ly.

Tôi không rành về nhạc lý nên xin miễn đưa ra lời nhận xét về nhạc Trịnh. Trong số người hâm mộ nhạc Trịnh, khẳng định là không có tôi. Tuy vậy, bẩm sinh của con người là ưa chuộng vẻ đẹp. Nhạc Trịnh thường viết lên được những nét đẹp qua lời ca trong các bản nhạc diễm tình vô cùng độc đáo mà không hề thấy có ở bất cứ nhạc sĩ nào từ xưa đến nay.

Lời ca trong các bản nhạc diễm tình của họ Trịnh luôn luôn có những hình ảnh liên tưởng hài hòa với nhau, vừa thanh tao vừa kiều diễm, làm người nghe ngạc nhiên đến mức sững sờ và đầy thú vị. Tỉ như, “Nắng có hồng bằng đôi môi em. Mưa có buồn bằng đôi mắt em”, tác giả đã viết những nốt nhạc trầm bổng, để cạnh đôi môi hồng của người thiếu nữ là tia nắng ấm áp của mặt trời, và để cạnh đôi mắt trong veo của người thiếu nữ là những giọt mưa buồn quạnh hiu, đều là những hình ảnh lãng mạn ngọt ngào của tình yêu làm mê hoặc lòng người.

Trước năm 1975, tôi chỉ thấy hình ảnh nghệ sĩ họ Trịnh trong các tập san, tuần báo, chưa bao giờ thấy ở ngoài đời vì những năm đầu của thập niên 1970 thịnh hành nhạc Trịnh, tôi phục vụ ở Vùng I Chiến Thuật. Vậy mà khi ra tù cải tạo, tôi có dịp gặp mặt người nghệ sĩ họ Trịnh, nghe họ Trịnh độc tấu Tây Ban Cầm và đệm đàn cho một cô gái hát nhạc Trịnh. Đó là khoảng mùa Thu năm 1983 …

Một buổi sáng, tôi đạp xe tới tiệm phở gà ở đường Trương Tấn Bửu, thì nghe thấy tiếng gọi của một phụ nữ, “Thầy Chung”. Tôi nhìn sang phía bên kia đường, thấy chiếc xích lô ngừng lại và một phụ nữ dung mạo đoan trang, vẫy tay về phía tôi. Quay xe lại dừng sát bên chiếc xích lô, tôi vẫn chưa nhận được người ngồi trong xe là ai.

Cô gái bước xuống xe đứng bên lề đường, mỉm cười nói, “Hơn 10 năm rồi, thầy làm sao nhận ra em được.”

Giọng nói vô cùng ôn nhu của người phụ nữ làm tôi thảng thốt kêu lên, “Cẩm Tú.”

Cẩm Tú cười, “Tạ ơn Trời Phật, thầy vẫn còn nhớ đến tên em. Thầy ra tù được bao lâu rồi?”

Tôi đáp, “Đã gần một năm.”

Cẩm Tú nói, “Em rất cần được gặp thầy. Tiếc là bây giờ em có một cái hẹn quan trọng không bỏ được. Em mời thầy lại nhà em vào lúc 2 giờ trưa nay. Số nhà 42 ở ngay đường Trương Tấn Bửu này.”

Tôi nói, “Chắc chắn 2 giờ tôi sẽ có mặt. Cô lên xe đi cho kịp giờ.”

Trước khi bước lên xe, Cẩm Tú còn quay lại căn dặn, “Thầy nhớ nhé! Số nhà 42.”

 Ngồi trong tiệm phở gà, tâm trí tôi quay về dĩ vãng. Vào đầu thập niên 1960, trường Sinh Ngữ Quân Đội thiếu hụt giáo sư, đăng báo tuyển dụng các giáo sư có văn bằng Cử Nhân tốt nghiệp ở các trường Đại Học nói tiếng Anh. Ngay trong tháng đầu tiên, trường đã tuyển dụng được hơn 10 sinh viên vừa du học về nước, trong đó nổi bật hai kiều nữ Cẩm Tú và Mỹ Linh nhan sắc tú lệ, phẩm chất thanh tao, làm rơi rụng biết bao nhiêu trái tim của các sĩ quan sinh viên đang thụ huấn tại trường.

chuchung3.jpg
Tác giả 1973

Với chức vụ Phụ Tá Huấn Luyện cho Chỉ Huy Trưởng trường Sinh Ngữ Quân Đội, tôi có nhiệm vụ hướng dẫn các tân giáo sư về phương pháp giảng dạy theo giáo trình của trường Sinh Ngữ Quân Đội.

Tại đây, mỗi tiết học là 50 phút, nghỉ giải lao 10 phút. Buổi sáng học 4 tiết, nên sau 2 tiết đầu, giờ giải lao là 20 phút.

Thời gian này, Cẩm Tú và Mỹ Linh tay cầm cuốn sách, 

thường lên văn phòng tôi, lấy cớ là hỏi về một vài thắc mắc trong giáo trình.

Từ tiểu học lên trung học, Cẩm Tú đều học ở trường Pháp, vì vậy rất tự nhiên trong cách xã giao, không hay e thẹn dịu dàng như Mỹ Linh.

Một hôm Cẩm Tú nói với tôi, “Thầy có biết tại sao tụi em hay lên đây làm phiền thầy không?”

Tôi hỏi, “Vì sao?”

Cẩm Tú nói, “Ở phòng giáo sư trong giờ giải lao, tụi em cứ phải trả lời những câu hỏi chẳng đâu vào đâu của các sĩ quan sinh viên của trường. Hơn nữa, lên văn phòng của thầy, tụi em không sợ bị dị nghị này nọ vì thầy đã có gia đình.”

Tiếp theo, Cẩm Tú làm điệu bộ xoa hai tay vào nhau, giọng cầu khẩn duyên dáng nói, “Xin thầy làm phước, làm đức cho tụi em tị nạn.”

Mỹ Linh bật cười, giơ tay lên che nụ cười e lệ, nạt Cẩm Tú, “Bộ chị muốn làm em chết vì cười hả.”

Chờ hai cô ngưng tiếng cười, tôi mới nói, “Học trò không hiểu bài, được quyền hỏi cô giáo. Sao hai cô quá khó với các Trung úy, Thiếu úy của trường tôi vậy.”

Cẩm Tú vội nói, “Khoan! Thầy đừng vội trách tụi em. Ông Trung úy mở cuốn sách ra, chỉ vào dòng chữ “I love you” nói, nhờ cô giáo giảng cho nghĩa câu này.”

Tôi bật cười hỏi, “Vậy cô giảng làm sao?”

Cẩm Tú nói, “Làm sao em giảng được. Em nói trường Sinh Ngữ Quân Đội không có cuốn sách này, em được quyền không trả lời.”

Tôi ngỏ lời khen, “Miệng lưỡi của cô là miệng lưỡi của một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Nghe như đúng đấy mà như không trả lời.”

Quay sang Mỹ Linh, tôi hỏi, “Còn cô thì sao?”

Mỹ Linh vội lắc đầu, “Em đâu có đẹp như chị Cẩm Tú. Chẳng có ai hỏi gì em cả.”

Cẩm Tú chen lời, “Có đấy! Sao lại không? Một ông Thiếu úy hỏi nhỏ Mỹ Linh, “Cô giáo Linh, cô giáo có bạn trai chưa?” Con nhỏ mặt đỏ lựng, luống cuống không biết trả lời ra sao, đưa mắt nhìn em cầu cứu. Em lại phải nói là, câu hỏi của Thiếu úy không có trong giáo trình của trường Sinh Ngữ Quân Đội, nên cô giáo Linh xin miễn trả lời. Thiếu úy cảm phiền!”

Thế là hai giọng cười trong trẻo vang lên, reo vui như tiếng pháo chào đón Xuân về.

Dãy nhà lầu trên đường Trương Tấn Bửu mới xây cất trước năm 1975 nên rất khang trang. Tôi vừa bấm chuông, Cẩm Tú đã chạy ra mở cửa mời vào.

Duyên dáng trong chiếc quần jeans và áo polo màu hồng, mái tóc vén lên cao để lộ khuôn mặt sáng như ánh trăng rằm, chút phấn hồng trên má, chút son thắm trên môi, Cẩm Tú lấy lại dáng vẻ kiều nữ ở trường Sinh Ngữ Quân Đội trong thập niên 1960.

Sự ngạc nhiên của tôi hiển hiện trên nét mặt, Cẩm Tú cười nói, “Sống ở xã hội này mà không biết đóng kịch thì có phần nguy hiểm đấy. Bước ra ngoài đường, em ăn mặc rất tùy tiện để hòa mình vào sự lam lũ của một xã hội sau 1975. Em tin chắc trước đây, thầy biệt phái làm việc với Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, tháng 4 năm 75, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ giữ trật tự trong phi trường, làm sao thầy kẹt lại được. Sau này em có người anh bà con được thả ra đầu năm 1981 ở trại Nam Hà, em mới biết thầy cũng bị giam ở đó, nhưng may mắn gia đình thầy đã thoát được. Bây giờ cô ở tiểu bang nào?”

Tôi trả lời, “Bang Nebraska miền Trung Bắc Mỹ. Chuyện gia đình tôi thủng thẳng nói sau  cũng được. Nói về cô trước đi.”

Sau đây là lời Cẩm Tú nói với tôi …

Sau khi thầy thuyên chuyển ra miền Trung, Đại úy Huỳnh Vĩnh Lại thay thế thầy trong chức vụ Phụ Tá Huấn Luyện. Vài ba tháng sau, em nhận được giấy tuyển dụng vào làm việc ở Bộ Ngoại Giao. Năm 1967, em lập gia đình với một dược sĩ. Chung sống gần 3 năm, chúng em không có hạnh phúc nên đồng ý ly dị. Em về ở lại với cha mẹ em và vợ chồng đứa em trai. Tới khi nhà nước mở cửa cho các công ty các nước tư bản vào kinh doanh, em vào làm việc cho một ngân hàng Hồng Kông có chi nhánh tại Saigon.

Tới khi người bạn cùng học trường Pháp trong những năm trung học, chị Xuân Mai hiện là Hiệu Trưởng trường trung học đệ nhị cấp Lê Lợi, khuyến dụ em về mở Trung Tâm Sinh Ngữ Lê Lợi lớp chiều tối, để giúp chị ổn định đời sống của các thầy cô dạy ban ngày. Vì tiền lương không đủ sống, các thầy cô phải nhận làm gia công vào ban đêm, thì làm sao ban ngày các thầy cô dạy tốt được. Nay nếu mở được lớp chiều tối, các thầy cô sẽ chia nhau làm những dịch vụ như giám thị, bảo vệ, giữ xe đạp… Như vậy tiền thu nhập cao hơn mà khỏi phải thức khuya dậy sớm.

Thêm vào đó, em có mấy nhỏ bạn cũng là giáo sư Anh Văn ở các trường trung học công lập trước đây. Sau năm 1975 tụi nó bị sa thải vì ngoại ngữ giảng dạy ở bậc trung học hiện nay là Nga Văn, Trung Văn nên tụi nó thất nghiệp cho tới ngày nay. Vì vậy, em nhận lời chị Xuân Mai về làm Hiệu Trưởng Trung Tâm Sinh Ngữ Lê Lợi lớp chiều tối, cũng là để giúp đỡ bạn bè của chế độ cũ trong thời buổi khó khăn.

Tuy nhiên, sau 3 khóa học, số học viên trường em vẫn chỉ trên dưới 200 học viên. Vì vậy với kinh nghiệm sẵn có, thầy cố gắng trợ giúp em, làm thế nào thu hút học viên đông đảo hơn lên cho mỗi khóa học.”

Nói xong, Cẩm Tú im lặng nhìn tôi, nôn nóng chờ đợi câu trả lời.

Tôi trầm ngâm suy nghĩ, lát sau mới nói, “Việc làm của cô đầy tình nhân ái, làm sao tôi không giúp cô được. Xin hỏi, trường cô dạy theo giáo trình nào?”

chuchung4.jpg
Kiều nữ Cẩm Tú và Mỹ Linh (từ phải)

Cẩm Tú nói, “Chỉ có bộ English for Today, chứ còn sách giáo khoa nào nữa đâu. Hầu hết các Trung Tâm Sinh Ngữ ở Saigon đều dạy theo bộ sách này. Giáo trình đánh máy, quay renéo.”

Tôi mỉm cười, “Vậy là xong rồi. Cô yên tâm, tôi nghĩ tôi làm được.”

Rồi tôi thong thả dẫn giải cho cô Cẩm Tú nghe là…

Bộ English for Today là sách giáo khoa soạn thảo để giảng dạy cho các học sinh ở bậc trung học.

Những năm cuối thập niên 1960, trường Anh Văn Tinh Hoa ở Đà Nẵng do tôi làm Giám Đốc, đã mở các lớp đàm thoại cấp tốc, vì đa số người dân Đà Nẵng ngày đó đi học tiếng Anh để kiếm việc làm ở sở Mỹ và các căn cứ tiếp vận của quân đội Mỹ quanh phi trường Đà Nẵng.                  

Ngày nay, đa số người dân Saigon đi học tiếng Anh để chuẩn bị đi định cư tại Hoa Kỳ, Trung Tâm Sinh Ngữ Lê Lợi sẽ mở các lớp Anh Ngữ Thực Dụng theo bộ Streamlined English cùng với môn Ngữ Điệu (Intonation) và Văn Phạm của trường Sinh Ngữ Quân Đội với các bài học hữu dụng cho những người mới đặt chân lên nước Mỹ, để thu hút học sinh chuyển trường, sang học tại Trung Tâm Sinh Ngữ Lê Lợi…

Sau khi tôi dứt lời, Cẩm Tú nở một nụ cười tươi thắm như đóa hoa hồng dưới mưa Xuân, nói, “Em không biết lấy lời lẽ nào để cảm ơn thầy. Điều em lo nghĩ cả mấy tháng nay, bây giờ đã được thầy cho giải đáp. Một lần nữa, cảm ơn thầy.”

Nhìn vẻ hân hoan của Cẩm Tú, tôi nói, “Chớ vội lạc quan. Chỉ còn hơn 1 tháng nữa, trường cô khai giảng khóa mới. Phần tôi cần chừng 3 tuần lễ để chọn lựa, sắp xếp giáo trình cho các lớp từ sơ cấp đến trung cấp, gồm 3 môn học: đàm thoại, ngữ điệu và văn phạm. Phần cô, lo chuẩn bị đăng thông báo khóa mới trên báo chí, Trường mở các lớp Anh Ngữ Thực Dụng theo giáo trình Streamlined English và vẽ các biểu ngữ treo ở cổng trường để thu hút học viên ghi danh theo học.”

Cẩm Tú cười dịu ngọt, “Em biết việc em phải làm mà.”

Sau đó, chúng tôi nói vài ba câu chuyện xã giao, rồi tôi đứng dậy sửa soạn ra về.

Kết quả là khóa khai giảng đầu tiên, giảng dạy theo giáo trình Streanlined English, Trung Tâm Sinh Ngữ Lê Lợi có được trên 400 học viên, và vài ba khóa tiếp theo, các phòng học của trường Trung Học đệ II cấp Lê Lợi, đã được sử dụng trọn vẹn.

Lâu lâu vào những buổi tối nhàn hạ, tôi thường tới Trung Tâm Sinh Ngữ Lê Lợi cùng Cẩm Tú dự thính một vài lớp, hầu rút ra những ưu khuyết điểm giáo trình giảng dạy để chuẩn bị sửa đổi cho phù hợp với các khóa sau.

Một buổi tối, tôi vừa bước vào văn phòng, Cẩm Tú đã reo lên một tiếng mừng rỡ, vừa mời tôi ngồi xuống vừa nói: “Em định sáng mai lại nhà thầy, cô Xuân Mai có hai phiếu chiêu đãi bữa ăn trưa cho các hội viên ở phòng ăn của Hội Trí Thức Yêu Nước vào trưa Chủ Nhật sắp tới, có Trịnh Công Sơn tới hát giúp vui. Cô Xuân Mai nghĩ là thầy và em thích loại nhạc xưa này, nên đưa cho em để mời thầy đi nghe nhạc cho vui.”

Thoạt đầu tôi định từ chối, sau nghĩ lại cũng nên đến để xem cái hội này sinh hoạt ra sao, bèn nhận lời cùng đi với Cẩm Tú.

Trưa Chủ Nhật, chúng tôi ăn mặc thật trang nhã. Tuy vậy một phụ nữ ở tuổi ngoài 30, bao nhiêu hương sắc biểu lộ trọn vẹn như bông hoa hướng dương bừng nở dưới ánh nắng mặt trời, mặc dầu Cẩm Tú chỉ có chút son trên môi, và chút nước hoa Chanel No5 trên tóc, đã làm lòng người nổi sóng. Chúng tôi bước vào phòng ăn, khí chất thanh tao của chúng tôi tỏa sáng ngời ngời khiến biết bao nhiêu cặp mắt đổ lên người chúng tôi xen lẫn tiếng xì xào, làm Cẩm Tú có chút mất tự nhiên.

Sau khi đóng 3 đồng cho mỗi phiếu, chúng tôi mỗi người được một khay cơm với một con cá chiên chan nước mắm ớt, một bát canh cải có vài miếng sườn heo, một ly trà đá và một tô cơm gạo trắng (năm 1983). Hai người bưng khay cơm ngơ ngác kiếm chỗ ngồi vì phòng ăn nhỏ chừng 10 cái bàn và nhiều ghế gỗ đã đông kín người. May mắn cuối phòng ăn còn hai ghế trống, chúng tôi tới đặt khay lên bàn ngồi xuống, lúc bấy giờ mới nhìn người đối diện. Tôi nhận ra là Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Chánh Trung trong nhóm đối lập với chánh quyền cũ, đang ngồi gặm cái đầu cá có vẻ ngon lành lắm. Tôi đụng nhẹ vào tay Cẩm Tú, hất đầu về phía Lý Chánh Trung. Cẩm Tú cười cười gật đầu như muốn nói là biết người này. Phong độ vẫn chững chạc, tuy nhiên khuôn mặt hốc hác, hắn ta chăm chú vào miếng ăn, không nhìn ngang nhìn ngữa như muốn chẳng ai biết mình.

Tôi cố nuốt tiếng chửi thề vào bụng, thầm nghĩ, “Dưới chế độ Cộng Hòa được hưởng vinh hoa phú quý mà còn mơ tưởng thiên đường cộng sản. Bây giờ ngồi ăn như con chó ốm gặm xương.”

Lát sau, “ban nhạc Trịnh Công Sơn” tới. Trịnh Công Sơn vẫn cao gầy, cặp kính cận trên khuôn mặt xạm đen, vẻ mặt phờ phạc thất thần, không hề thấy ở người nghệ sĩ thuở xưa, tay cầm một đàn guitar, cùng đi có một cô gái chừng 30 tuổi, mặt tròn không chút phấn son và một thanh niên cũng mang theo một đàn guitar. Ban nhạc này đi dép lẹp xẹp, quần áo nhếch nhác như muốn nói lên là, chẳng bao giờ biết bột giặt là gì!

Họ đứng trước cửa phòng ăn, nhìn quanh chẳng còn thừa cái ghế nào. Các thực khách vẫn chăm chú vào ăn uống, không một lời chào đón hoan nghênh. Họ đành ngồi xuống bậc cửa ở ngoài phòng ăn, và bắt đầu dạo đàn những bản tình ca xưa của Trịnh Công Sơn. Sau vài bài cô gái hát theo nhạc đệm, chỉ nhận được vài ba tiếng vỗ tay rời rạc. Chừng nửa giờ sau, họ lẳng lặng ra về cũng như lẳng lặng khi đến, không một lời mở đầu và cũng không một lời kết thúc. Phòng ăn vẫn đầy ắp tiếng cười nói ồn ào của các thực khách.

Nhìn thấy khay cơm của Cẩm Tú còn gần như nguyên vẹn, tôi cười nói, “Bộ nghe nhạc Trịnh Công Sơn hay quá, ăn hết nổi hả?”

Đôi lông mày hơi nhíu lại, Cẩm Tú khẽ khàng nói, “Cá họ chiên gì mà tanh quá, phần vì nghe một bản nhạc xưa làm mình đã từng say mê, mà bây giờ nghe chẳng có một chút rung cảm, thà ăn đói một chút tốt hơn.”

Dù Cẩm Tú nói rất nhỏ, song vì cái bàn quá hẹp nên Nguyễn Chánh Trung chừng như nghe được. Hắn ta ngưng ăn mắt thoáng nhìn qua cô Cẩm Tú, rồi đưa mắt nhìn xuống, vẻ mặt có chút tư lự, lát sau mới tiếp tục ăn lại.

Thấy vậy tôi châm biếm, “Nhà ngoại giao cao cấp ơi! Khi đã chọn món cá để ăn, thì phải chấp nhận mùi tanh của cá. Bây giờ cảm thấy lợm giọng thì đã lỡ mất rồi.”

Nói xong, chúng tôi đứng dậy mang khay trả về quầy ăn, trước khi đi Cẩm Tú còn nhìn thẳng vào mặt Nguyễn Chánh Trung, ném cho hắn một cái nhìn khinh bỉ.

Trời hôm nay không có nắng, gió thổi nhè nhẹ. Chúng tôi đạp xe trên một con đường vắng vẻ, vừa đi vừa nói chuyện.

Tôi nói, “Nhìn dáng vẻ Trịnh Công Sơn, tôi đoan chắc không phải hắn tình nguyện đến hát giúp vui, cũng chẳng vì tiền thù lao, cô thấy sao?”

Cẩm Tú trả lời liền, “Chuyện này em biết. Ba bốn tháng trước đây, một người bạn dược sĩ trong đoàn dược sĩ ở Hoa Kỳ về tụ hội với đoàn dược sĩ ở Saigon, Trịnh Công Sơn cũng đến hát giúp vui cho bữa tiệc. Chị bạn em cũng là bạn cũ của Trịnh Công Sơn hỏi, sao ông ta lại đến ca hát như gánh hát rong vậy. Ông ta buồn bã trả lời là, lệnh trên Thành ủy cho công an phường đến bảo ông ta, làm sao cưỡng lại được.”

Tôi ngán ngẩm nói, “Thật là chuyện tức cười. Trước đây Trịnh Công Sơn đã phản bội người dân miền Nam, bây giờ lại đến hát giúp vui cho người dân miền Nam thời đó. Đúng là một đòn thâm độc của tụi cộng sản muốn làm nhục Trịnh Công Sơn vì hắn ta gọi cuộc kháng chiến thần thánh “Đánh Mỹ Cứu Nước” của chúng là cuộc nội chiến giữa miền Nam và miền Bắc. Sau này tổng bí thư Đảng cộng sản Lê Duẩn mới lật ngữa lá bài là, “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”.”

Cẩm Tú nói, “Vì thế, em nghe nói là ông ta đã được phỏng vấn để đi định cư tại Canada. Nếu có được cuộc sống yên vui, chẳng có ai dại gì lìa bỏ quê hương để đi sống lưu vong ở xứ người.”

Vừa dứt lời, Cẩm Tú ngồi thẳng lên, một tay cầm lái xe đạp, tay kia đặt trên bụng, nói tiếp, “Mải nói chuyện bây giờ em mới thấy đói bụng. Phở Quyền ở ngay đầu đường Trương Tấn Bửu, em mời thầy đến đó ăn một tô rồi hãy về.”

Tôi nói, “Nhà hàng Chí Tài ở Chợ Cũ, mới khai trương gọi là quán cơm tây bình dân, có nhiều món ngon. Tôi mời cô thưởng thức món civet-lapin (thỏ hầm rượu vang), chắc sẽ hợp khẩu vị của cô. Đi ăn phở, người mời trả tiền. Đi ăn civet-lapin, người mời trả tiền. Tùy cô lựa chọn.”

Cẩm Tú mỉm cười tươi tắn nói, “Sĩ quan các thầy lúc nào cũng hào hoa phong nhã với phụ nữ. Vậy em đi ăn civet-lapin.”

Sau cơn mưa hồng, nhạc Trịnh dần dần tắt lịm. Tuy vậy, nhạc Trịnh đã vượt không gian theo dòng người Việt tị nạn cộng sản tới định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới, xa quê hương nửa vòng trái đất.

Trước một cuộc sống đầy cơ cực ở xã hội mới, đoàn người Việt di tản chịu đựng biết bao nhiêu là khắc nghiệt, khác biệt về ngôn ngữ, khác biệt về màu da, khác biệt về văn hóa, trong đời sống kiếm miếng cơm manh áo.

Vì vậy, âm nhạc là nguồn an ủi vô cùng ấm lòng cho người lính chiến sống tha phương, ngày đêm day dứt tưởng nhớ về đồng đội cũ, về chiến trường xưa và về các địa danh đẫm máu của ta và địch như Pleime, Bình Giả, Hạ Lào, Đại lộ kinh hoàng…, thì dòng nhạc Trịnh Công Sơn đã làm ta quên đi nỗi buồn viễn xứ, qua các bản tình ca tuyệt vời làm rung động lòng người như Diễm xưa, Mưa hồng, Biển nhớ, Như cánh vạc bay….

Giờ đây, trên miền đất hứa nơi dừng chân lập nghiệp của đoàn người di tản buồn, nhạc Trịnh đã không vượt được thời gian và đã dần dần đi vào quên lãng, chỉ còn lại người lính già chiến bại xa quê hương, đang sống ngậm ngùi như sỏi đá bơ vơ.

Fremont ngày 15 – 7 – 2019

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: