Số đông trí, phú, địa hào đi theo Việt Minh

Share:

Tống Văn Công

Ngày 25 tháng Tám năm 1945 có tin Việt Minh đã cướp được chánh quyền ở Bến Tre, tỉnh trưởng Phan Văn Chi đầu hàng. Ấp An Hoà cùng cả làng An Bình Tây của tôi sôi sục chuẩn bị tham gia cướp chánh quyền thị trấn Ba Tri. Các đảng viên cộng sản công khai đứng ra nhân danh Mặt Trận Việt Minh cắt đặt việc mua vải, giấy hai màu đỏ, vàng để may và dán cờ đỏ sao vàng, tổ chức các đội võ trang với dáo mác, gậy gộc.

Chú thợ hồ Hai Dần là bí thư chi bộ, bác giữ vịt Tư Nay là phó bí thư chi bộ, không xưng danh cộng sản mà là chủ nhiệm và phó chủ nhiệm Mặt Trận Việt Minh, ngồi vào những chiếc ghế mới hôm qua còn là của Hương Cả, Hương Chủ trong Nhà Việc (trụ sở Ban Hội tề), chỉ đạo hoạt động cách mạng. Suốt đêm tiếng hô tập đi theo nhịp “một hai ” làm cho bọn con nít chúng tôi cũng không thể chợp mắt. Vừa rạng sáng, tất cả được tập hợp xếp hàng theo từng khối để tiến ra thị trấn. Điều đáng nói là dẫn đầu các khối đều là các trí, phú, địa, hào của ấp, của xã: Trịnh Văn Vinh đại địa chủ, nguyên chánh lục bộ; Võ Văn Di địa chủ, nguyên hương trưởng; Trịnh Văn Khâm sinh viên, con trai của ông Hương Cả Nghi; Huỳnh Dư Bì sinh viên, con trai ông Hội Đồng Thuần; Ba Phán con trai địa chủ Tím; Sáu Sinh địa chủ, nguyên thư ký quận trưởng Ba Tri…

Do đâu mà những người này hăm hở lao vào dòng thác cách mạng do cộng sản lãnh đạo? Bởi vì từ ngày 19 tháng Năm 1941 tại Pắc Bó tỉnh Cao Bằng, dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ Tam của Đảng cộng sản Đông Dương đã quyết định thành lập Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh gọi tắt là Việt Minh với Cương lĩnh:

“Không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, hễ thừa nhận mục đích, tôn chỉ và chương trình của Việt Minh thì được gia nhập”. Mục đích, tôn chỉ và chương trình của Việt Minh là: “Cùng nhau đánh đuổi Nhật, Pháp, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên nước Việt Nam Dân Chủ, Cộng Hòa”.

Nội dung đó đã đáp ứng đúng nguyện vọng tha thiết của mọi người Việt Nam yêu nước. Đảng cộng sản đã giấu biệt lá cờ búa liềm, cờ đỏ sao vàng, họ không hô hào làm cách mạng vô sản mà kêu gọi giành độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân! Vài phút sau khi đoàn An Bình Tây lên đường, Huỳnh Dư Khải (con ông Hương cả Khiêm, cháu ông Hội đồng Thuần) bạn học cùng lớp nhứt với tôi chạy tới, gọi bọn nhóc chúng tôi như Võ Minh Triết, Trịnh Hoành Sang, Nhiều, Điểu, Thưởng, Trắc… kéo theo người lớn làm “khởi nghĩa”. Chúng tôi đến thị trấn Ba Tri thì thấy hàng ngàn người, cờ xí, biểu ngữ từ nhà lồng chợ đi tới dinh quận. Đứng trên cái bàn cao, xung quanh có dân quân bảo vệ, ông Lê Văn Lượm bí thư quận ủy, chủ tịch uy ban khởi nghĩa đọc tờ hiệu triệu viết sẵn.

Đọc xong bản hiệu triệu, ông thông báo ta đã chiếm trại bảo an và trại cảnh sát, ông quận Trực xin đầu hàng. Tiếp theo đó, ông Võ Châu Thành phó bí thư quận ủy, phó ban khởi nghĩa, nhân danh chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng và ông Nguyễn Chí Khải ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, nhân danh Chủ tịch Mặt trận Việt Minh ra mắt đồng bào. Mô hình “hệ thống tòan trị” này đã được giữ y cho tới hôm nay: Bí thư của Đảng là quan chức quyền lực số 1 đứng trên các tổ chức chính quyền và mặt trận. Phó bí thư của Đảng là nhân vật quyền lực số 2 được giao trách nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban hành chánh (nay là Ủy ban Nhân dân); các Ủy viên Ban Thường vụ của Đảng làm chủ tịch Mặt trận và chủ tịch các đoàn thể…

Ngay sau ngày cướp chính quyền, chủ tịch Võ Châu Thành ký lệnh tử hình không cần xét xử đối với những người bị gọi là “có nợ máu đối với nhân dân” như Cai Tổng Đặng, Cai Tổng Bang, Biện Ký, Đội Xôm, Hương Quản Nhường, Hương Quản Lầu… Sau này được biết, ở nhiều nơi trên khắp đất nước ta đã có nhiều người bị giết, trong đó có những nhà ái quốc, nhà văn hóa nổi tiếng như Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm, Phạm Quỳnh…

Sau khi Đảng cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán, các tổ chức Đảng ở huyện Ba Tri, Bến Tre vẫn giữ nguyên vai trò lãnh đạo như cũ, chỉ khác trước là không họp chi bộ công khai ở cơ quan. Trả lời báo chí trong và ngoài nước, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Tôi chỉ có một Đảng – Đảng Việt Nam”. Các cán bộ cũng như người có học ở quê tôi đều biết rõ sự thật là Đảng chỉ giả vờ giải tán, nhưng không ai chê trách ông Hồ nói dối mà ngược lại đều khen “Cụ Hồ mình khôn khéo quá”.

Quốc Hội và hiến pháp 1946
Tháng Mười Hai 1945, Pháp tái chiếm 20 tỉnh thành Nam Bộ. Bến Tre là tỉnh cuối cùng chưa bị chiếm. Tỉnh ủy Bến Tre xin trung ương Đảng cho tỉnh tổ chức bầu đại biểu Quốc Hội sớm từ ngày 25 tháng Mười Hai, thay vì ngày 6 tháng Một 1946 như quy định chung. Hồi đó ngày 6 tháng Một còn được cho là ngày thành lập Đảng. Mãi đến sau năm 1960, người ta mới biết ngày 6 tháng Một là ngày âm lịch, theo dương lịch là ngày 3 tháng Hai – 1930. Tỉnh Bến Tre được bầu năm đại biểu quốc hội. Mặt trận Việt Minh, do Đảng cộng sản lãnh đạo, giới thiệu sáu người ra ứng cử là: Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn Cái, Đỗ Phát Quang, Nguyễn Tẩu, Trần Quế Tử, Ca văn Thỉnh. Trong đó, hai người sau là trí thức cảm tình Đảng. Hầu hết cử tri đều gạch tên người đứng ở cuối danh sách, do đó ông Ca Văn Thỉnh bị thất cử. Có thể nói, “Đảng cử dân bầu” đã có từ cuộc bầu cử Quốc Hội đầu tiên. Điều này không phải chỉ ở tỉnh Bến Tre mà khắp cả nước. Xin nêu vài ví dụ, ở Hải Phòng, ông Vũ Trọng Khánh, nguyên thị trưởng Hải Phòng của chính phủ Trần Trọng Kim, đương kim bộ trưởng Bộ Tư Pháp của chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh, do từ chối sự giới thiệu của Mặt Trận Việt Minh thành phố Hải Phòng mà bị thất cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lo lắng đã yêu cầu ông Vũ Trọng Khánh chấp nhận sự giới thiệu của Mặt Trận Việt Minh tỉnh Hà Đông (chưa bầu cử), nhưng ông vẫn kiên quyết từ chối. Do không có chân trong Quốc Hội, ông phải rời ghế Bộ trưởng Bộ Tư Pháp. Trong khi đó, cố vấn Vĩnh Thụy (tức cựu hoàng Bảo Đại) chấp nhận sự giới thiệu của Mặt Trận Việt Minh tỉnh Thanh Hóa, đắc cử với 92% số phiếu.

Lâu nay, Quốc Hội được bầu năm 1946 được coi là Quốc Hội đa nguyên, đa đảng là chủ nhân của bản Hiến pháp 1946 dân chủ, tam quyền phân lập. Thực ra không phải như vậy. Ngày 20 tháng Chín 1945 Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34/ SL thành lập Ban Soạn Thảo Hiến Pháp gồm bảy thành viên: Trưởng ban là Hồ Chí Minh, các ủy viên gồm Vĩnh Thụy, Đặng Thái Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (tức tổng bí thư Trường Chinh). Với ban soạn thảo này thì rất khó để có thể soạn ra được bản Hiến Pháp 1946. Do thực hiện thỏa thuận giữa Việt Minh với Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách), Quốc Hội phải nhận vào 70 đại biểu của hai đảng này không qua bầu cử (Việt Quốc 50 đại biểu, Việt Cách 20 đại biểu). Sau khi có thêm 70 đại biểu không qua bầu cử, ngày 2 tháng Ba 1946, Quốc Hội bầu ra ban soạn thảo Hiến Pháp gồm 11 thành viên: Tôn Quang Phiệt, Trần Duy Hưng, Nguyễn thị Thục Viên, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ (Việt Cách), Nguyễn Cao Hách (Việt Cách), Đào Hữu Dương (Việt Cách), Phạm Gia Đỗ (Việt Quốc). Ngày 9 tháng Mười Một 1946, Quốc hội thông qua Hiến pháp với 240/242 phiếu thuận. Hai người bỏ phiếu phiếu chống là Nguyễn Sơn Hà với lý do hiến pháp không có điều khoản cho tự do kinh doanh; Phạm Gia Đỗ phản đối chế độ chỉ có một viện. Nhưng sau đó mấy tháng, 70 đại biểu của Việt Cách,Việt Quốc chỉ còn lại bảy người và Hiến pháp 1946 chỉ còn nằm trên giấy. Ngày 4 tháng Mười Hai 1953, Quốc Hội (gồm những người được bầu năm 1946) thông qua luật Cải Cách Ruộng Đất, tước đoạt ruộng đất của người bị quy là địa chủ, trái với Điều 12 của Hiến pháp 1946: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo hộ”. Thật ra như ở trên đã nói, bản Hiến pháp này đâu phải là của họ! Nhà báo Huy Đức có nhận xét rất đúng “Mặc dù Hồ Chí Minh đặt vấn đề xây dựng hiến pháp rất sớm, hiến pháp 1959 mới thực sự là hiến pháp của ông”.

Từ tháng Tám 1945, tôi ở trong đội Thiếu Nhi Cứu Quốc Xã An Bình Tây. Thời gian này có vài chuyện mà mỗi khi nhớ lại cảm thấy ray rứt:

Giữa năm 1946, vào buổi sáng, tôi đang đi xuống chợ thì gặp bốn anh du kích tay cầm mã tấu giải anh Sấn (học trên tôi ba lớp) hai tay bị trói ké, đi về hướng Giồng Gạch, sông Hàm Luông. Không cần hỏi, ai cũng biết đó là hướng đưa người đi “mò tôm”.(Tiếng lóng của thời đó chỉ việc đâm chết rồi ném xác xuống sông. Nghe nói, anh Sấn bị nghi làm gián điệp, chỉ vì hôm lính Pháp đi ruồng bố, anh đã “trăm” tiếng Tây với thằng quan ba! Cùng thời gian này (sau khi Pháp chiếm Ba Tri vài tháng) ở khắp quận đều có những vụ “trừng trị bọn gián điệp”: xếp Cang ở Tân Xuân; Hương quản Thành ở An Đức; Thạch (bạn học cùng lớp với tôi, con trai Cai Tổng Đệ)… Họ bị giết, không có cáo trạng, không có tòa án xét xử! Số đông người dân vẫn cho rằng, trước họa ngoại xâm, chuyện “mạnh tay” như vậy là cần thiết (!).

Năm 1947, Ba Tri có nhiều trận phục kích đánh cả đoàn xe của Pháp. Giữa tháng Sáu, đại đội 885 phục kích ở Giồng Quéo tiêu diệt 50 lính Pháp và Lê Dương, thu nhiều vũ khí, đặc biệt có nhiều đồ hộp và thuốc lá thơm. Một chiến sĩ của đại đội 885 nhắn tin cho má anh đến thăm, ban chỉ huy cho bà mấy bao thuốc lá Bastos. Trên đường về, bà vừa đi vừa phì phèo điếu thuốc, khi đến làng An Bình Tây thì có mấy người ăn mặc giống như lính quận, tay lăm lăm súng gắn lưỡi lê, bắt bà đưa vào chùa Long Khánh, quát hỏi: “Thuốc thơm này ở đâu ra? Ai cho? Khai mau”! Mang nỗi lo của một bà má bộ đội, lại nghe cách ăn nói hỗn hào, bà nghĩ đã gặp bọn theo Tây. Bà bảo: “Tôi lượm được ngoài lộ đá”. Lập tức bà bị những cú đấm như trời giáng.

Lúc ấy chúng tôi họp Đội Thiếu Nhi Cứu Quốc ở nhà người bạn, nghe người nhà bên cạnh bảo vừa bắt được gián điệp, du kích đang tra hỏi ở chùa Long Khánh. Chúng tôi ngừng họp kéo ra chùa và chứng kiến cảnh một bà già ốm yếu gan góc chịu những đòn tra tấn với mắt nhìn khinh bỉ, đôi môi mím chặt. Giữa lúc căng thẳng đó, có tiếng mõ báo động và người từ dưới Chợ Mới ùn ùn chạy lên hô “Tây ruồng”. Cuộc tra tấn dừng lại. Người trưởng nhóm giao nhiệm vụ cho anh tự vệ trẻ tuổi: “Nếu Tây tới gấp quá, thì mày cứ việc khử bả đi”. Nghe tới đó, bà già khóc rống “Trời ơi, cứ tưởng mấy chú là Việt gian, cho nên tui quyết không khai. Sự thực là tui đi thăm con tui là Trần Văn Tuấn ở đại đội 885 vừa đánh trận Giồng Quéo. Thuốc thơm là của chỉ huy bộ đội cho tui”!

Tống Văn Công
Trích cuốn “đến già mới chợt tỉnh”
có bán tại Saigon Nhỏ

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: