Tân

Share:

Song Thao

Tôi nghĩ chắc ai cũng thỏa tính tò mò nếu được nghe chuyện mà bà Hồ Xuân Hương bảo là “cấm ngoại thủy không ai được biết”. Cái “đêm hôm ấy đêm gì” người ta làm ăn ra sao? Biết tỏng là người ta sẽ làm cái chi chi, chắc cũng chẳng khác mình, nhưng vẫn cứ vểnh tai lên nghe một cách…tò mò. Nếu là chuyện phòng the của thế hệ cỡ ông bà cha mẹ mình hồi xưa thì sự tò mò tăng lên gấp bội. Tôi cũng dzậy! Dzậy thì hãy nghe ông Nguyễn Vỹ kể chuyện hấp dẫn này trong cuốn “Tuấn, Chàng Trai Nước Việt”.

Tái hiện đám cưới xưa

Chuyện xảy ra vào năm 1915. Sau khi khách khứa ra về, ông Hương Cả, bố của chú rể, gọi con vào nhà trong nói chuyện. Giọng ông nghiêm nghị: “Cha đã chọn giờ tốt cho con động phòng trong đêm tân hôn của con. Con phải đợi đúng giờ Tý, ước chừng mặt trăng lên đến giữa sân, con mới được vô buồng làm lễ hoa chúc với vợ con”. Chú rể Lê Văn Thanh hí hởn dạ vâng. Vầng trăng đêm đó sao mà chậm chạp. Leo mãi mới chỉ lên tới nóc nhà. Trăng trong người chú rể lại leo nhanh như tên ăn trộm. Hai tốc độ tréo ngoe nhau phát tức. Chậm tới đâu thì cuối cùng trăng cũng phải vắt vẻo giữa sân. Nửa đêm giờ tý canh ba đây rồi. 

Lê Văn Thanh mừng quýnh chạy vào nhà, mở cửa buồng hợp cẩn. Chàng cài then cửa lại. Cô dâu Nguyễn Thị Hợi bẽn lẽn ngồi nơi góc giường, áo đơn áo kép vẫn đầy đủ như khi về nhà chồng. Chiếc bàn kê ở đầu giường bày một đĩa trầu cau đã têm, một bình rượu với đôi chén nhỏ, hai cây đèn bạch lạp cháy hiu hiu. “Thanh đến trước mặt cô Hợi, nhưng không đứng gần. Với một giọng run run, gần như không ra tiếng , chàng nói ấp úng, nàng ngồi cúi mặt xuống nghe : … Ơ… Ơ… làm lễ động phòng… hoa chúc... Nói mấy lời đó, chàng cũng rụt rè e lệ. Nàng khẽ đáp :  ThầyÔng lạy trước Nguyệt..”. “Hai… đứa… mình phải lạy một lượt chớ. Nàng đứng dậy. Chàng bước đến bàn thờ Nguyệt Lão, lấy bình rượu rót ra hai chén, rồi thắp hai que nhang, đưa cô Hợi một que, chàng cầm một . Hai người đồng lạy. Xong chàng lấy một chén rượu đưa cô Hợi : … Ơ… Ơ… uống rượu…”. Nàng đưa hai tay lễ phép nhận chén rượu, và nâng lên uống cạn một lượt với chàng. Chén rượu nhỏ thôi, chắc là uống không say lắm. Chàng lại lấy một miếng trầu cau, trao nàng: “ Ơ… Ơ… ăn trầu…”. Nàng cũng đưa hai tay lễ phép nhận miếng trầu tươi cau tươi và đưa vô miệng nhai. Nàng nhai nhỏ nhẹ chậm rãi, rất có duyên. Chàng vừa ăn trầu, vừa cởi chiếc áo gấm và áo dài trắng treo trên tường , chỉ còn mặc chiếc áo cụt. Chàng lên giường nằm, miệng còn nhai trầu mỏm mẻm. Cô Nguyễn Thị Hợi vẫn cứ mặc nguyên ba áo hàng mầu, ngồi ghé một bên mép giường, cúi mặt xuống ra chiều bối rối, hai tay mân mê tà áo.

Chú rể đã nằm xuống nhưng bụng vẫn mắc cở. Khẩu trầu trong miệng chú rể đã nát bươm mà còn chưa tính ra kế. Khá lâu sau đó, lấy hết bình tĩnh, chàng nói mà không dám ngó cô vợ mới cưới: “Cô Ba không cởi áo đi nằm kẻo mệt! Khuya rồi. Bây giờ là…giờ…Tý”. Nàng rụt rè: “Dạ”. Vẫn để nguyên ba lớp áo, nàng nằm ghé bên lề giường. Rồi mạnh ai nấy ngủ!

Gà gáy hết canh năm, chàng chợt tỉnh dậy, thấy vợ nằm sát cạnh giường sắp té xuống đất, mới nằm lại gần nàng, nắm tay lung lay:” Cô Ba… cô Ba… nằm xít vô , kẻo té… nằm xít vô…”. 
Nàng vẫn nhắm mắt như ngủ mê, nhưng cũng nghe lời chàng, nằm xích vào một tí, một tí thôi. Chàng hồi hộp sung sướng, khẽ đặt bàn tay lên cánh tay cô vợ trẻ mà chàng nhìn thấy xinh đẹp như nàng tiên giáng thế… Lê Văn Thanh hồi hộp khẽ đặt bàn tay lên cánh tay áo hàng mầu lục của cô vợ trẻ… Cô Ba để yên, không nói gì nhưng khi chàng bạo tay hơn một tí, khẽ đưa bàn tay dần dần lên ngực cô, thì cô Ba hất tay ra, rồi co cánh tay của cô lên để che ngực, mặc dầu cô đã mặc ba lớp áo hàng mầu, chưa kể áo cụt trắng ở trong cùng chiếc yếm đen của cô cột chặt vào cổ và lưng. Thấy cô vợ mới cưới còn giữ gìn e lệ, Lê Văn Thanh không dám làm ẩu, vội vàng rút bàn tay, nằm im phăng phắc”.

Một lễ cưới đầu thế kỷ 20

Con gà chẳng cần biết bụng Lê Văn Thanh đang như nồi nước sôi, vẫn nhẩn nha gáy lần thứ hai, rồi thứ ba. Trời đã hừng sáng. Tiếng kèn rạng đông bên trại lính khố xanh vang lên hùng dũng. Đêm hồ như đã tàn. Mặt trăng lặn mất tiêu. Cô dâu Nguyễn Thị Hợi vội vùng dậy, xuống bếp rửa mặt và đun nước pha trà cho ông cha chồng đã ngồi trên ghế tràng kỷ. Chú rể Lê Văn Thanh cũng vội dậy hầu trà cha. Đêm tân hôn tưởng mặn nồng tình chồng vợ đã vụt mất tiêu!

Đêm thứ hai tình hình không chút tiến triển. Cô dâu vẫn chưa một lời nói, chưa một lần cười, mặt băng giá chết cứng trong nỗi sợ hãi. Chú rể phải tính kế. “Chống tay trên chiếc gối gỗ, nửa nằm nửa ngồi khép nép bên lề giường, chàng rung đùi khẽ nói, cố gắng giọng hùng hồ như thầy đồ dạy học: “Đức Thánh, Ngài nói rằng :”Thiên hạ chi đạt đạo ngũ viết quân thần giã, phụ tử giã, phu phụ giã, môn đệ giã, bằng hữu chi giao giã, ngũ giã, thiên hạ chi đạt đạo giã… ” ( Ở đời có năm đạo: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè giao hảo: ấy là năm đạo thiên hạ phải thực hành). Tôi tự xét tôi đi làm việc Nhà Nước, ấy là tôi đạt được quân thần chi đạo. Tôi ăn ở có hiếu với cha, ấy là tôi đạt được phụ tử chi đạo… Nay tôi đã gá nghĩa cùng cô Ba, thì tôi trộm xét cái thân bảy thước này không đến nỗi vô ích với đời, tôi đã thành đạt cái nam nhi chi khí. Tôi thương cô Ba bao nhiêu, tôi lại nhớ câu trong Kinh Thi bấy nhiêu: “Thê tử hảo hợp, như cổ sắt sắc cầm, nghi nhĩ thất gia lạc nhĩ thê noa… Phụ mẫu kỷ thuận hỹ hồ” (Vợ con hoà hợp như tiếng đàn sắt đàn cầm, nhà cửa đoàn tụ vợ con vui vẻ… cha mẹ được hoan hỷ lắm thay…) . Ký Thanh ngâm mấy câu sách Nho, khoái chí gật đầu, rồi cao hứng xổ một mớ tiếng tây ba rọi: “Tục ngữ An Nam mình nói: “Thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng cạn”. Tây thì nói “Unis la femme et le mari, puisser de l’eau… dans le mer de l’Est… est vidé aussi… “. Lê Văn Thanh vừa nói vừa nhai trầu mỏm mẻm, vừa cười tủm tỉm. Chàng nuốt nước trầu một cách ngon lành, trong lúc cô Ba ngồi nghe như vịt nghe sấm, thầm phục ông chồng tài hoa của cô” . 

“Giã’ tới phát mệt, lại xổ ra tới ba thứ tiếng mà tình hình chưa nhúc nhích, chàng năn nỉ: “Cô Ba nằm xuống nghỉ kẻo khuya rồi, cô Ba. Đã quá giờ Tý rồi đó”. Chàng vờ ngủ, ngáy khò khò. Cô Ba nhẹ nhàng đứng dậy, cởi áo dài ra, chỉ còn mặc chiếc áo cụt trắng. Cô nằm ké bên lề giường. Chú rể ngủ chi nổi. Chàng chỉ giả vờ ngáy đợi thời cơ. Cô Ba nằm im không dám nhúc nhích. “Thanh tưởng cô đã ngủ rồi, mới len lén nằm kề bên cô. Chàng khẽ đặt mũi lên đôi má âm ấm của nàng, mịn và thơm như hai cánh hoa đào, chàng say sưa hít liên tiếp hai ba hơi. Nàng làm bộ ngủ mê để chàng muốn làm gì thì làm. Đêm nay, nàng không chống cự, từ chối một tí gì cả”.

Đọc tới đây tôi thở phào. Thật khó như đường vào đất Thục. Đó là chuyện ngày xưa. Thực ra cũng chưa xưa 1ắm. Mới đầu thế kỷ 20. Tới đầu thế kỷ 21 này, chuyện đã khác đi nhiều. Đêm tân hôn chẳng còn là đêm khám phá. Đất Thục đã tanh bành từ những ngày sống thử. Hôn nhân chẳng còn là điểm khởi đầu mà chỉ là một phương cách hợp thức tình trạng đã xảy ra từ khuya. Một cuộc khảo sát do Voucher Codes Pro thực hiện vào năm 2013 cho thấy chuyện đêm hợp cẩn ngày nay chẳng có gì ầm ỹ. Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh! Có 2128 cặp tân hôn tại Mỹ tham gia trả lời. Kết quả có tới 52% cặp tân hôn không tù ti trong đêm tân hôn. Chữ “tân” coi bộ vô nghĩa. Chẳng còn chi mới mẻ đối với hai người trong cuộc. Bộ đồ trắng toát của cô dâu là một sự dối trá. Con ong đã tỏ đường đi lối về từ lâu. Họ vui chơi bên ngoài cửa phòng hợp hôn và giữ yên tĩnh trong phòng sau đó. Lý do là vì có tới 25% chú rể và 13% cô dâu say xỉn chẳng biết trời trăng chi cả. Có 17% quá mỏi mệt trước và trong ngày tổ chức lễ cưới khiến lơ là chuyện ái ân. Có tới 10% phải lo cho con cái họ đã có với nhau trước khi cưới.

Lễ cưới tại Hà Nội xưa

Ông George Charles, Giám Đốc Thương Mại của Voucher Codes Pro phải thốt ra: “Đêm tân hôn không còn là chuyện quan trọng như xưa nữa. Ngày nay người ta đã thay đổi. Họ không còn coi động phòng là một nghi thức thiêng liêng. Lý do là họ đã sống với nhau trước để coi có hòa hợp với nhau được không nên đêm tân hôn không còn được háo hức mong đợi. Một lý do khác có thể là việc tổ chức đám cưới ngày nay chiếm nhiều công sức của cặp hôn nhân khiến họ mệt mỏi ít màng tới những chuyện khác”.

Chuyện nam nữ là chuyện trời đất đã xếp đặt. Anh có phận anh, chị có phận chị. Thường thì mọi chuyện xuôi rót. Nhưng trời cũng có lúc mắc lầm lẫn. Như đã lầm với một nhà thơ tình hàng đầu của văn học Việt Nam. Thơ Xuân Diệu đã là những lời tình của bao thế hệ. Thế hệ tôi bỏ rẻ mỗi anh mỗi chị cũng phải thủ trong người ít câu phòng khi dùng tới. Từ những ngày học sinh, mấy câu thơ sau vẫn nằm trong tôi, tới bây giờ cũng chưa quên được.

Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!
Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt 
Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng;
Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng:
“Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm!”.

Thi sĩ Xuân Diệu

Thơ là thơ và đời là đời. Tác giả của những câu thơ tình ra riết đó bị dư luận cho là một người đàn ông không bình thường. Cho tới khi ông lấy vợ. Năm 1958, qua mai mối của ông Hoàng Tùng, Tổng Biên Tập báo Nhân Dân, nơi bà Bạch Diệp làm việc, nhà thơ tình bất hủ và đạo diễn điện ảnh Bạch Diệp làm đám cưới. Chàng đã ngoài 40, nàng đúng 29 tuổi. Cuộc hôn nhân chỉ kéo dài được sáu tháng. Vì sao họ rã đám, người ngoài không ai biết. Mãi cho tới năm 2010, 52 năm sau, bà Bạch Diệp mới kể lại đêm tân hôn ngày đó với báo chí. Trong căn nhà nhỏ trên phố Đội Cấn, Hà Nội, bà Bạch Diệp cho biết: “Từ nhỏ tôi đã bị cấm đọc tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết tình yêu, lại học ở trường Dòng nên gần như tôi không biết gì nhiều về tình yêu nhục dục, quan hệ vợ chồng. Lấy nhau nhưng đêm tân hôn và cả những ngày sau nữa không có chuyện quan hệ chăn gối nhưng tôi cũng không thắc mắc nhiều đến chuyện đó. Đến khi lấy nhau được 3 tháng thì bố tôi phát hiện chúng tôi chưa ăn ở với nhau. Đó là do một lần chúng tôi đi Quảng Ninh chơi về thì mẹ lôi tôi vào phòng hỏi: thế nào? Thì tôi ngạc nhiên hỏi thế nào là thế nào ạ. Thế là mẹ tôi hỏi thẳng chuyện chăn gối của hai vợ chồng. Tôi liền bảo: con tưởng phải một năm sau mới ngủ với nhau chứ, mới mấy tháng đã ngủ gì”.

Chuyện về đêm tân hôn chay và cuộc tình không xác thịt của Xuân Diệu và Bạch Diệp đã khiến ông bố của bà Diệp can thiệp. Ông gọi Xuân Diệu tới nói chuyện. Nghe Xuân Diệu kể, ông biết anh con rể bị bệnh tiên thiên bẩm sinh, không thể quan hệ vợ chồng được. Ông sẽ chữa bệnh cho anh trong ba tháng. Nếu không hết thì “phải bỏ con Diệp”. Xuân Diệu ngày ngày chăm chỉ sắc thuốc uống. Nhưng thuốc thang cũng không xoay chuyển được tình hình. Cuộc hôn nhân chay của hai người tan vỡ sau đó.

Bà Bạch Diệp

Tiến Sĩ Lê Lương Đống, Quyền Vụ Trưởng Vụ Y Học Cổ Truyền, cho biết: “Bệnh tiên thiên là bệnh mang tính bẩm sinh. Bệnh tiên thiên có rất nhiều dạng chẳng hạn như tim tiên thiên, thận tiên thiên, cơ địa tiên thiên. Những người bẩm sinh yếu tiên thiên có chung đặc điểm là từ bé đã ốm yếu quặt quẹo, bệnh tật liên miên, bị hết bệnh này đến bệnh khác, sức đề kháng kém khỏi được bệnh này lại sinh ra bệnh khác. Kể cả khi người đó tập thể hình, có sức cơ bắp thì sức đề kháng vẫn kém. Với Xuân Diệu có thể do bị bệnh tiên thiên ở thận hoặc rối loạn vận mạch não, gây co thắt mạch máu não nên một nửa não thường bị co thắt gây đau đớn. Điều này cũng ảnh hưởng lớn đến cảm xúc phòng the. Hoặc có thể ông bị bệnh thận tiên thiên nên dẫn đến suy thận, yếu sinh lý, xương cốt rệu rã, hay bị sụn lưng ngay từ khi còn trẻ hay ốm vặt. Người mắc chứng bệnh này thường nhút nhát, cảm xúc cũng thất thường”.

Ông mai Hoàng Tùng, tuy có nghe  những đồn đãi về sinh lý bất thường của Xuân Diệu nên trước khi mai mối đã tới hỏi Huy Cận, người “tình trai” của Xuân Diệu. Huy Cận xác định Xuân Diệu bình thường. Bà Bạch Diệp nói: “Xuân Diệu không hiểu hết mình, ông ấy nghĩ là vì không quan hệ nên không quen, lấy vợ vào sẽ hết nên mới quyết định lấy tôi. Nhưng nào ngờ, sự tình cũng chẳng chuyển biến được. Có lần tôi hỏi một người em dâu của Xuân Diệu thì được biết một người em của Xuân Diệu cũng mắc chứng bệnh đó”.

Sau cuộc hôn nhân đổ vỡ với Xuân Diệu, bà Bạch Diệp ở vậy tới hai chục năm. Sau đó bà gặp ông Nguyễn Đức Tường, chuyên viên bộ Công An, và hai người gá nghĩa. Bà đã có thai nhưng chỉ được vài tháng bị sẩy thai. Mất con, bà lại mất chồng khi ông ra đi vì bệnh ung thư sau khi ăn ở với bà được 15 năm.

Cuộc đời cô đơn của bà kết thúc vào ngày 17/8/2013 khi bà tạ từ cõi thế vì bệnh ung thư ngực, thọ 85 tuổi. Nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh, tức Bát Phố, mới đây có post trên Facebook:
“Rồi Bạch Diệp cũng không thể dùng tinh thần vượt được bệnh tật. Bạch Diệp nằm bất động, chân sưng phù, hết đi chơi cùng bạn bè là hết niềm vui cuối cùng. Bạch Diệp nằm liệt giường, cô đơn không chồng không con, bạn bè đôi lúc mới có người đến thăm. Bát Phố nhớ như in hình ảnh Bạch Diệp ôm đôi mèo đến nhà Bát Phố. Bạch Diệp mắt đẫm lệ, nhờ Bát Phố chăm giúp đôi mèo mà Bạch Dịệp quý như con. Bạch Diệp bảo:“Tôi sắp về Tây Trúc rồi, chỉ thương hai cháu mèo mồ côi không nơi nương tựa, nhờ Bát Phố nuôi hộ đôi mèo là tôi mỉm cười nơi chín suối. Suốt đời tôi không quên ơn này.”

06/2019

Website: www.songthao.com

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
R Ơ M
Do một tình cảm đơn sơ, thuần khiết lúc ấu thơ, tôi rất thích rơm. Trong những năm tuổi nhỏ được ở thôn quê, tôi thấy rơm và thích rơm…
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: