Thi sĩ Hoàng Cầm, hai mối “tình chị” và bài thơ lá Diêu Bông”, kỳ 1

Share:

Thế Đại Nguyễn Thái Đệ

Vài nét về huyền thoại lá Diêu Bông
Lá Diêu Bông là lá trong trí tưởng tượng của nhà thơ Hoàng Cầm, không có thực trong loài thảo mộc ở ngoài đời. Có thể đây là tên ẩn dụ của một loại lá mà tác giả đã đặt, để bày tỏ một mối tình hết sức u uẩn, bi thương và vô vọng, một huyền thoại về chiếc lá biểu tượng cho một tình yêu chất ngất, nóng bỏng, đam mê và lãng mạn, mà một cậu bé mới lên tám đã cảm nhận được, thần tượng và theo đuổi như bóng với hình một cô gái lớn hơn mình những tám tuổi trong suốt bốn năm dài, cho đến khi Chị đi lấy chồng ! !

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Câu thơ mở đầu ghi trên của bài Lá Diêu Bông đã để lộ tác giả có ý muốn giới thiệu với người đọc về cách trang phục và nét diễm kiều của cô gái quê đất Kinh Bắc xinh đẹp và đa tình, một miền quê nổi tiếng với dân ca Quan Họ trữ tinh :

Gió dục cái đêm Đông trường
Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường để chờ ai ?

Hình ảnh và bóng dáng của cô gái ấy là chị Vinh, hiện ra trước mắt cậu bé tên Việt như một thiên thần rực rỡ, khiến con tim của cậu đã phải choáng váng và đê mê vì yêu đương ! Và từ sau lúc tiếng sét ái tình đã nổ, cậu Việt yêu say đắm chị Vinh không lúc nào nguôi, đến quên cả học hành, sách vở, suốt ngày chỉ chong ngóng nhìn sang nhà chị, nằm xế bên kia đường cách nhà bố mẹ của cậu độ 20 mét.

Bốn năm sau (1934), một buổi chiều Đông, gió heo may lạnh, chị ra cánh đồng sau nhà, đi tìm. tìm cái lá . . .  (không rõ là lá gì ! ). Cậu bé đi theo, cậu hỏi chị tìm gì thì chị bảo “Đứa nào tìm được cái lá . . . ấy, thì ta gọi là chồng !”.

Hai mươi lăm năm sau, câu chuyện đi tìm lá . . . của chị Vinh mới hiện lại trong tim não, đúng hơn trong vô thức của nhà thơ Hoàng Cầm. Chúng ta hãy nghe nhà thơ Hoàng Cầm giải thích:

“Khoảng 3 giờ sáng một đêm Đông năm 1959, trên giường ngủ, trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn ngủ 6 watts, bên cạnh người vợ đang ngủ ngon và các con những giường bên cũng đang ngủ say, tôi không gây một tiếng động khả dĩ làm mất giấc ngủ của những người thân. Chợt bên tai vẳng lên một giọng nữ rất nhỏ nhẹ mà rành rọt, đọc chậm rãi, có tiết điệu, nghe như thời nào xa xưa vẳng đến, có lẽ từ tiền kiếp vọng về. “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng”.

Tôi xoay người trong chăn về phía trái và ghi ngay, ghi lia lịa trong bóng tối mờ. Đến lúc giọng nữ im hẳn, lòng tôi nhẹ bổng lên, một lát sau tôi ngủ thiếp đi. Sớm hôm sau, nhìn lại thì có chỗ rõ đọc được, nhiều chỗ dòng nọ đè lên dòng kia, chữ nọ xóa mất chữ khác. Phải mất gần nửa tiếng đồng hồ tôi mới tách được ra theo thứ tự đúng như lời người nữ kỳ diệu nào đó đã đọc cho tôi viết nửa đêm hôm qua. Cái lá Diêu Bông là cái lá gì, ở đâu, nào tôi có biết, thần linh đọc Diêu Bông thì tôi chép Diêu Bông, thế thôi !

Bài thơ Lá Diêu Bông ra đời như vậy đó ! Nói có người không tin, nhưng tôi thiết nghĩ bây giờ khoa Tâm thần học, Vô thức luận hay Tâm linh học rất có thể lý giải được hiện tượng đó một cách rất khoa học.”

Bài thơ Lá Diêu Bông
“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẫn thờ đi tìm
Đồng chiều,
Cuống rạ .
Chị bảo :
Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi là chồng.
Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày: đâu phải lá Diêu Bông.
Mùa Đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu,
Trông nắng vãng bên sông.
Ngày cưới chị
Em tìm thấy lá
Xòe tay phủ mặt chị không nhìn.
Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể.
Gió quê vi vút gọi :
Diêu Bông hời . . . ới Diêu Bông !”

Tiểu sử thi sĩ Hoàng Cầm
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (22-2-1922) tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, nhưng gốc quê là ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (tên cũ là Kinh Bắc). Tên ông có lẽ được đặt ghép từ 2 địa danh quê hương là Phúc Tằng và Việt Yên. Hoàng Cầm học trung học ở Bắc Ninh và năm 1938 ra Hà Nội học tại trường Thăng Long để đậu Tú tài toàn phần vào năm 1940.

Ngay từ khi còn học Đệ Tứ, ông đã dịch cuốn Graziella của Lamartine sang tiếng Việt, lấy nhan đề là Hận ngày xanh. Ông cũng dịch cuốn Một nghìn một đêm lẻ, đăng trong tạp chí Tân Dân của Vũ Đình Long. Kể từ khi viết văn, dịch sách, cộng tác với Tân Dân, ông lấy bút hiệu là Hoàng Cầm, tên của một vị thuốc đắng trong thuốc Bắc. Thân sinh của Hoàng Cầm là một nhà nho, thi không đỗ, về nhà dạy chữ Hán và mở tiệm thuốc Bắc.

-Năm 1944, do Thế chiến thứ II nổ ra quyết liệt, ông đưa gia đình về lại quê ở Thuận Thành. Tại đây, ông tham gia hoạt động Thanh niên cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông về Hà Nội, thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi chiến tranh Đông Dương bùng nổ, ông theo đoàn kịch rút khỏi Hà Nội, biểu diễn lưu động tại các vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Sơn Tây, Thái Bình một thời gian, rồi giải thể. Diễn viên Tuyết Khanh đóng vai Kiều Loan trong vỡ kịch thơ Kiều Loan của ông đã trở thành người vợ đầu tiên của ông, sau một cuộc tình thơ mộng và cho ra đời một tác phẩm Kiều Loan bằng xương bằng thịt.

– Tháng 8-1947, ông tham gia Vệ quốc đoàn ở chiến khu 12. Cuối năm đó, ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ (Văn công quân đội) đầu tiên. Năm 1951, ông được kết nạp vào đảng Cọng sản. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Mác-xít về nghệ thuật, ông từ bỏ lối viết kịch thơ. Năm 1952, ông được cử làm Trưởng đoàn Văn công Tổng Cục Chính trị, để phục vụ các chiến dịch. Trong thời gian này, ông nổi tiếng với các bài thơ “Đêm Liên hoan”, “Bên kia sông Đuống”, “Cót thóc”, “Con Đường”, “Về Kinh Bắc”, “Mưa Thuận Thành” . . . . !

Chân dung nhà thơ Hoàng Cầm
– Tháng Mười 1954, đoàn Văn Công về Hà Nội. Đầu năm 1955, do đoàn Văn Công mở rộng thêm nhiều bộ môn, Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ làm Trưởng Đoàn Kịch nói.
– Sau 1954, Tuyết Khanh và Kiều Loan di cư vào Nam.
– Cuối năm 1955, ông về công tác ở Hội Nhà Văn Việt Nam và được bầu vào ban chấp hành, bỡi lẽ ông đã quyết tâm “lột xác” để theo kịp đà tiến của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong văn chương !
– Nhưng từ năm 1953, sau khi ông được đi “tham quan” cải cách ruộng đất, ông nhận chân được thực chất của chế độ cộng sản. Từ ngày ấy trở đi, Hoàng Cầm quay trở về với con người cũ và thực của mình để rồi ông trở lại viết kịch và thơ như ngày xưa.
– Năm 1956, Hoàng Cầm hoạt động tích cực trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm và được anh em gọi đùa là “con ngựa chiến”. Ông đã viết nhiều bài trong Nhân Văn, để bút chiến với phe theo Đảng. Ngoài ra, Ông có viết hai bài thơ và kịch thơ rất đặc sắc. Đó là bài thơ Em bé lên sáu tuổi, đăng trong Giai Phẩm Mùa Thu, để tố cáo việc đảng cộng sản bao vây những gia đình địa chủ, khiến cho con cái của họ phải chết hết. Bài hai là vở kịch thơ Tiếng Hát, trong đó ông dùng lời của Trương Chi để kêu gọi nhân dân hãy nổi dậy đấu tranh chống Đảng.
– Người bạn đời thứ hai của ông là Lê Hoàng Yến được kết hợp vài năm sau khi thụ án vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Hai người mở quán nước ở số nhà 43 Lý Quốc Sư, Hà Nội để độ nhật qua ngày.
Trường hợp của Hoàng Cầm, chứng tỏ rằng ông là một người có tâm hồn nghệ sĩ, thành thật yêu tự do, không thể nào hòa mình với chế độ cộng sản được.
Những bút danh của tác gi : Hoàng Cầm, Bằng Việt , Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi.

Sự tích bài thơ Lá Diêu Bông, theo tự thuật của tác giả
Điều ly kỳ và bí ẩn nhất về bài thơ Lá Diêu Bông là không phải chỉ có duy nhất một người “tình chị” là cô Vinh của:

. .  .Đứa nào tìm được lá Diêu Bông
Từ nay ta gọi làm chồng . . .

mà lại có thêm một người “tình chị” thứ hai nữa, đó là cô Nghĩa !

Trên thi đàn Việt-Nam, hầu như ai cũng biết rõ về cô Vinh, chỉ là một người “tình chị” thôi, vì có rất ít người biết thêm về cô Nghĩa, người “tình chị” thứ hai.

Người “tình chị” thứ nhất
Từ năm lên tám tuổi (1930), tác giả trọ học trên thị xã Phủ Lạng Thương của tỉnh Bắc Giang. Thường thì chiều thứ Bảy, cậu bé đáp xe lửa chỉ có 10 phút về nhà tại cái phố ga xếp Như Thiết (thực tên là Thiết Sơn), nằm trên quốc lộ số Một, chỉ cách Phủ Lạng Thương có 6 km, và cách Hà Nội đến 44 km. Nhà cậu có tủ thuốc Bắc của ông bố, có đôi bồ hàng xén của bà mẹ.
Một buổi chiều thứ Bảy, lúc khoảng 4 giờ hơn, cậu bé về đến nhà thì thấy có một cô gái đang mua một món hàng gì của mẹ cậu. Vừa trông thấy mặt cô ta, cậu bé choáng người lên như bị sét đánh, đúng vậy, đó là tiếng sét của ái tình ! Cô gái đẹp đến mê hồn, khiến cậu bé yêu mê, yêu say! Cậu làm ngay một bài thơ lục bát tỏ tình, viết trên một trang giấy học trò trên có vẽ hoa, bướm, vài ngọn núi, một dòng sông, bằng mực tím, với hàng chữ nắn nót : “Em gửi chị Vinh của em “. Thứ Bảy tuần sau đó, về đến nhà, cậu tìm gặp chị để trao thư tận tay chị. Chị không mở ra xem, chỉ mỉm cười ra vẻ bí mật, rồi bỏ thư vào túi, không nói gì.
Từ đấy, cậu bé không chỉ về nhà trong chiều thứ Bảy, mà còn về trong chiều thứ Tư nữa (vì thứ Năm cũng nghỉ học). Do quá mê say chị, nên chị đi đâu, cậu đi theo đó, và cũng chỉ biết gọi chị ơi chị hỡi . . . . mà thôi, chứ biết nói gì hơn !
Cha chị, một nhà nho, mất sớm, mẹ chị dẫn hai con: chị và em trai bốn tuổi lên cái phố xếp này, mở sạp hàng bán kẹo, bánh, nước chè tươi, nước vối, cả bánh đa, bánh đúc và bánh khoai nữa. Chị Vinh có biết võ vẽ chữ nho, đọc thông quốc ngữ, quê cũng gốc Tiên Du, nên hát quan họ rất hay làm mê lòng người giống như sắc đẹp của chị vậy ! Chị Vinh thừa biết thằng bé con này nó mê đắm mình, nên chị thường hay cho cậu ngồi bên cạnh chị. Nhưng ngược lại, chị cũng hay trêu đùa cậu, khiến cậu nhiều khi cũng phải phát khóc lên.

Lên 12 tuổi (năm 1934), trong những đêm sáng trăng mùa Hè, mùa Thu, chị Vinh thường tập họp bọn trẻ em từ 10 đến 15 tuổi cả trai lẫn gái trên bãi cỏ sau ga, để hát ví, trống quân, hát ống, hát giao duyên, hát vấn đáp. Đặc biệt, với môn hát Quan họ, chị Vinh đáng là bậc thầy. Giọng của chị cao, trong vắt mà ngọt ngào biết bao ! Lại thêm đôi mắt đẹp, buồn thăm thẳm với hàng mi cong và dài, đôi má luôn ửng hồng, đôi môi mọng đỏ màu hồng son, hàm răng hạt na đen nhưng nhức, khiến ai nhìn thấy cũng khó tránh khỏi phải xiêu lòng ! Những đêm tháng Chín, tháng Mười, trời se lạnh, trên bãi cỏ, dưới gốc cây, đứng sát bên chị, cậu được hơi ấm từ người chị truyền sang, nên cảm thấy hạnh phúc vô cùng ! Có những lúc cậu bé được chị ôm lấy vai, cậu vội ngả đầu vào người chị, khiến chị hình như cũng cảm thấy được sự ham muốn của cậu. Có một lần cậu được chị ôm vào lòng, nhưng cậu chưa bao giờ dám chủ động ôm người chị.

Tâm sự (tự thuật) của tác giả viết tại Hà nội trong những ngày cuối năm Nhâm Thân, 1992:
“Trong dịp Noel năm ấy, sau vụ gặt tháng Mười, cánh đồng bát ngát chỉ còn trơ gốc rạ. Đang đứng ở sân nhà, trông thấy chị Vinh mặc áo trắng, yếm cánh sen, váy lụa màu kiểu Đình Bảng chùng xuống đến mắt cá chân, chị rời sạp hàng của mình đi ra cánh đồng phía sau nhà. Em vội vã chạy theo, như đã từng chị đi đâu em đi đấy suốt bốn năm qua ! Chị tròn 20 thì em cũng đã 12. Em đã chạy theo chị, cách chị chỉ có ba bước, như đã theo chị đi về Kinh Bắc, lúc vào Vườn Ổi, lúc đánh Tam Cúc, lúc lên ngọn sông Thương, lên tít ngọn Kỳ Cùng, lúc đếm Sao, đếm Nắng, đếm Giờ, em theo chị qua hội hè, cho đến mùa rét 1934. Và cái Lá Diêu Bông cũng bắt nguồn từ buổi chiều năm ấy, trong dịp nghĩ lễ Giáng sinh những bốn năm ngày liền được về nhà. Trời xanh trong màn sương cực mỏng, không một gợn mây. Gió heo may se lạnh! Chị theo bờ ruộng, vạch từng búi cỏ, cắm cúi tìm kiếm . .. Bỗng chị quay phắt lại, nhìn vào mặt em cất lời mắng nhẹ “Ơ hay ! Sao mày cứ theo tao lẳng nhẳng mãi thế này nhỉ ?”. Em không trả lời, nhưng người thấy nóng ran lên và cảm thấy sung sướng vô cùng, vì như thế này là chị đã có chú ý tới em rồi. Chị bước lên gò có nhiều bụi cây dại, cuối xuống như tìm tòi một vật gì đó. Em hỏi chị tìm cái gì. Chị đã nhìn thẳng vào mắt em rồi trả lời “Chị tìm cái lá . . . !.” Em không nhớ hay hoặc không nghe là chị gọi cái lá gì nữa. Rồi chị nói tiếp “Đứa nào tìm được, ta gọi làm chồng . . .” Nghe nói thế, em cảm thấy vô cùng sung sướng vì biết rằng giữa em và chị đã có xuất hiện một tình yêu rất là mãnh liệt !”

Chị Vinh đi lấy chồng
Một tuần sau, cậu bé từ tỉnh về, nhìn sang nhà chị thấy cửa đóng im ỉm. Cậu vội hỏi mẹ bên nhà đó đi đâu. Mẹ cậu trả lời giọng như muốn khóc “Nó đi lấy chồng rồi, con ạ !”. Cậu òa lên khóc rồi gục đầu vào lòng mẹ. Cậu cũng không rõ là mẹ cậu có biết mối tình của cậu với chị Vinh không. Về sau mẹ cậu có kể cho cậu biết là có một ông Quản khố anh đi qua đây, trông thấy chị đã mê nhan sắc của chị. Chị bằng lòng lấy lẽ ông và ông Quản đã đưa cả mấy mẹ con về Phủ Lý quê của ông. Từ đấy, cậu không còn gặp được chị nữa !

(còn tiếp)

Thế Đại Nguyễn Thái Đệ

 

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Dã Thảo Nhàn Hoa
Dã Thảo Nhàn Hoa là Cỏ Hoang Hoa Dại. Tôi dùng tựa đề này là để tưởng nhớ một vị Thầy cũ: Nhà thơ Đông Hồ.. Thầy tôi yêu thơ,…
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: