Thi sĩ Hoàng Cầm, hai mối “tình chị” và bài thơ lá Diêu Bông”, kỳ 2

Share:

Thế Đại Nguyễn Thái Đệ

(tiếp theo kỳ trước)

Gặp lại chị Vinh
*Tâm sự của tác giả viết ngày 17 tháng Chín 2004 :

“Nhưng câu chuyện chưa kết thúc ở đây. Năm đó (1940), tôi đã 18 tuổi, vừa thi đỗ Tú Tài xong, đang sống ở Hà Nội. Nhân ngày nghỉ, có một người bạn ở Sen Hồ có người anh cưới vợ, rủ tôi về nhà chơi, luôn tiện ăn cỗ cưới. Cỗ bàn xong, chiều hôm đó tôi dạo ra phố Sen Hồ chờ tàu về Bắc Giang . Lúc đó tôi đã viết báo nên cũng có tiền. Tôi mặc bộ complet, thắt cà vạt, đầu đội mũ phớt, ra dáng người dân chốn thị thành. Đang thả bộ đi dọc phố, chợt nghe có tiếng gọi: “Cậu Việt ơi !”. Nghe giọng quen quen, tôi nhìn sang bên kia đường, thì thấy chị Vinh đang ngồi bên một cái chõng bán nước chè. Tôi bước sang đường, chị Vinh mừng rỡ chạy ra, đặt hai tay lên vai tôi rồi kéo vào nhà nói chuyện. Bà mẹ đã già nhưng còn nhớ tôi, hỏi thăm cha mẹ tôi. Một lát sau bà bảo bà có việc phải đi vào làng, tối có thể không về, cậu cứ ở lại xơi cơm. Cậu em đã lớn cũng theo mẹ đi luôn. Hình như cả hai đều biết giữa tôi và chị Vinh còn có nhiều điều muốn nói với nhau. Chị kéo tôi ngồi xuống chõng, chị ngồi cạnh ôm ngang lưng tôi. Tôi nhẹ nhàng khẽ gỡ tay chị ra. Chị kể cho tôi biết tình cảnh của chị sau khi lấy chồng. Chị lấy ông Quản đã có một mặt con. Mấy mẹ con chị về Phủ Lý cũng vẫn tiếp tục buôn bán làm ăn. Nhưng dần dần, ông Quản ruồng bỏ chị, đi theo người khác. Cuối cùng, ông đã đuổi mấy mẹ con đi. Gia đình chị không muốn trở về chốn cũ, nên đưa nhau về Sen Hồ.

Tôi ái ngại nhìn chị. Lúc này trong tôi không còn cái tình yêu say mê của thời thơ ấu. Tôi chỉ cảm thấy thương cho một con người tiều tụy, nhan sắc đã tàn phai. Bảy tám năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh của chị năm tôi lên 10 vẫn còn đọng mãi trong tôi.

Ngày cưới Chị
Em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.”

Và cảm giác khi đánh mất chị như vẫn còn đi suốt đời thơ tôi:

“Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời ! . . .
. . . . ới diêu bông ! . . . “

Gặp lại chị Vinh lần thứ hai
Đến cuối năm 1954, Hoàng Cầm đang là sĩ quan trong quân đội Bắc Việt, một hôm đạp xe qua phố Lò Đúc, Hà Nội, bỗng thấy người đàn bà khoảng 40, mộc mạc quê mùa đang ngước nhìn ông. Người đó là chị Vinh. Hai người nhận ra nhau. Chị nhìn ông, rồi bối rối, như muốn chạy trốn. Chị kêu lên : ” Ôi chết, tôi phải đi vội !”. Chưa đầy một phút sau, chị đã biến nhanh vào đám đông trên đường phố rồi ! Hoàng Cầm đã chết lặng vì xót thương ! Người con gái Thuận Thành “long lanh mắt ướt” đâu còn tuổi xuân thì “thơm hơi ấm ổ rơm”, đâu còn lanh lảnh giọng hát Quan họ “rung suốt dây si, nhịp quá mê”. Chị đã chạy trốn quá khứ, chạy trốn kỷ niệm, mặc cho “gió quê vi vút gọi . . . !”

Người “tình chị” thứ hai
Theo tự thuật, tâm sự của nhà thơ Hoàng Cầm
Sau khi chị Vinh đi lấy chồng, cậu Việt vẫn tiếp tục đi học trên tỉnh lỵ Bắc Giang. Năm 13 tuổi, đỗ tiểu học xong, cậu sang thị xã Bắc Ninh học trung học bốn năm. Việt mất chị Vinh và mất luôn cả cánh đồng chiều, những đêm trăng hát quan họ, cậu lạc loài như một kẻ tha hương ! Qua năm thứ ba, Việt dọn nhà trọ học về nhà bà Cửu Đạt (chủ nhà) ở làng Đại Tráng. Hôm đầu tiên đến nhà trọ, Việt đã run rẩy như khi gặp chị Vinh thời cậu tám tuổi, lúc trước mặt cậu xuất hiện một cô gái xinh đẹp lạ thường với đôi mắt bồ câu, môi trầu đỏ thắm, lại cũng hàm răng đen hạt na và đôi má lúm đồng tiền. Đó là chị Nghĩa con bà Cửu, mà tên gọi trong nhà là cái Bống “Cái Bống là cái Bống bang, Mẹ Bống yêu Bống, Bống càng làm thơ”.

Chị Nghĩa cũng lớn hơn Việt tám tuổi. Và Việt cũng đã phải lòng chị, yêu chị đắm đuối như cậu đã từng yêu chị Vinh ! “Phải chăng đây là sự bố trí của số mệnh và duyên kiếp ?”, Việt đã tự nhủ với lòng mình như thế !

Có một hôm, Việt bước vào phòng chị, chị đang soi gương chải tóc. Cậu nhìn trân trân chị, mặt tràn đầy vẻ si ngây. Chị không một lời nói, chỉ mỉm miệng cười duyên rồi cầm cái lược đến bên Việt để chải mái tóc đang rối bời của cậu. Và cũng từ hôm đó chị Nghĩa đã lôi kéo Việt, chàng trai 15 tuổi vào cái thế giới Lá Diêu Bông thứ hai ! Có khác chăng là với chị Vinh thì Việt lẽo đẽo theo Vinh, chị đi đâu, em theo đó. Còn bây giờ thì Bống cứ theo Việt. Việt chạy đi thì Bống chạy theo, níu kéo lại bằng đôi mắt quyến rũ và tình tứ.

Ngày ông Cửu Đạt, bố của Bống mất, đám tang công việc bề bộn, thế mà Bống vẫn cứ la cà đến chỗ ngồi trong rạp ngoài sân của Việt không rời, khiến cho bà Chánh , cô của Bống phải đe nẹt “Bố nằm sờ sờ ra đấy mà suốt ngày mày cứ đờ mặt nhìn thằng con trai !”. Mỗi ngày, Bống càng quyến luyến Việt thêm nhiều hơn. Chị đón Việt về học mỗi chiều, rủ chơi tam cúc không ăn tiền mà chung bằng cách bẹo má, để chị cố ý làm để cho được bẹo má ! Ở tuổi 15, gần hai năm sống gần chị Nghĩa, giờ đây Việt đã trở thành là một bó rơm khô, dễ bén lửa, có thể bốc cháy bất cứ lúc nào không biết trước được ! Nhưng do bản tính nhút nhát, nên Việt chưa dám một lần nào tấn công tỏ tình với Bống.

Sau hai năm ở nhà chị Nghĩa, Việt phải dọn lên tỉnh. Nhớ thương chị Nghĩa vô cùng, nhưng mọi ngày Chủ Nhật Việt vì bận học thi vào trường Bưởi , nên không thể về thăm chị Nghĩa được.
Hè 1938, Việt được thư mời, nên về ăn cưới chị Nghĩa. Do bận tiếp khách, họ hàng và cỗ bàn nên mãi đến lúc Việt chào hỏi ra về, chị Nghĩa mới xuất hiện ra tiễn. Chị đã òa ra khóc lớn trước sân!
Sau đó chị Nghĩa ra Hà Nội với mẹ, rồi theo chồng vào Nam.
Năm 1988, Hoàng Cầm gặp lại chị Nghĩa tại Saigon đúng một nửa thế kỷ (1938-1988). Lúc này thì hai người đều đã già, nên gọi nhau bằng “Ông” và “Bà”, nhưng vẫn có chiều âu yếm trong đó. Con gái chị Nghĩa tên Tế đặc biệt có đôi mắt đẹp mê hồn đến những gấp mười lần mẹ mình ! Cô Tế bằng tuổi với Hải Yến con gái của nhà thơ (45 tuổi) và có năm con rồi, mà trông vẫn như gái mới dậy thì. Nhà thơ Hoàng Cầm đã có cảm giác rằng Tế và Yến là hai chị em sinh đôi. Mối nhân duyên tiền kiếp giữa hai hồn Kinh Bắc (hồn Việt và hồn Nghĩa) đã sinh ra cô con gái Kinh Bắc tuyệt trần này ! Có thể đây là hiện thân truyền kiếp tâm linh giữa hai người Việt và Nghĩa).

Tế thay mẹ săn sóc cho bố Hoàng Cầm rất chu đáo. Bố Hoàng Cầm có chép lại ba bài thơ: Lá Diêu Bông, Cây Tam Cúc, Qua Vườn Ổi, với lời đề tặng : “Con là con gái của bố từ kiếp trước. Bố chép lại ba bài thơ này tặng con hình tượng tình yêu vĩnh hằng của Bố và Mẹ từ những ngày mẹ con 20 tuổi ở vùng quê Kinh Bắc !” .

Những tác phẩm của Hoàng Cầm

Hận ngày xanh (dịch Graziella của Lamartine, 1940)
Bông sen trắng (dịch của Anderson, 1940)
Cây đèn thần (Nghìn lẻ một đêm, 19041
Thoi mộng ( truyện vừa, 1941)
Tỉnh giấc mơ vua (Nghìn lẻ một đêm, 1942)
Hận Nam quan (kịch thơ, 1942, 1944)
Bốn truyện ngắn (đăng Tiểu thuyết Thứ Bảy từ 1939 đến 1943)
Kiều Loan (kịch thơ, 1945)
Ông cụ Liên (kịch nói, 1952)
Đêm Lào Cai (kịch nói 3 hồi, 1957)
Tiếng hát Quan họ (Trường ca, in chung trong tập Cửa biển, 1956)
Những niềm tin (thơ dịch của Bonalan Kanfa – Algérie, 1956)
Men đá vàng (truyện thơ, 1989)
Trương Chi (1993)
Tương lai (kịch thơ, 1995)
Bên kia sông Đuống (tập thơ chọn lọc, 1993)
Lá Diêu bông (tập thơ chọn lọc, 1993)
Về Kinh Bắc (tập thơ, 1994)
99 Tình khúc (tập thơ tình, 1885)

Ngoài bút danh Hoàng Cầm, thi sĩ còn dùng những bút hiệu khác như: Bằng Việt , Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi.

Độc giả và bài thơ Lá Diêu Bông
Chuyện tình Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm được chuyền tay từ năm 1960, đã được rất nhiều độc giả hâm mộ và mến chuộng ! Âm điệu và nội dung tình tứ của bài thơ đã ngân rung lên biết bao những nuối tiếc, luyến thương, khiến cho ta như đưa tay chộp bắt lấy, nhưng nó lại biến mất vào hư không, huyền huyền, ảo ảo ! Đọc thơ lên, ta có nghe như đâu đây một điệu nhạc chơi vơi, làm xao xuyến và vấn vít tâm hồn ta vậy ! Bài thơ mông lung, mới đọc, chả có ai hiểu được ý nghĩa cụ thể là gì, nhưng chỉ biết càng đọc càng thấy âm vọng của ngàn xưa thân thương kéo về rất gần gủi với ta, rồi lại xa xôi ra như ở từ một thế giới nào khác vậy !

Từ chỗ không ai hiểu ý nghĩa gì của bài thơ như nói trên, và cũng do Hoàng Cầm thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống Đảng Cộng Sản Việt Nam cùng với Văn Cao, nên đã có nhiều độc giả Lá Diêu Bông có cảm nghĩ rằng bài thơ này có ẩn dụ tố cáo Đảng CSVN từ trước giờ chỉ biết lừa bịp và phỉnh gạt dân tộc Việt Nam mà thôi ! Ẩn dụ này thể hiện ở chỗ ví ngầm trong bài thơ như: Chị Vinh là đảng CSVN, lá Diêu Bông là chủ nghĩa cộng sản ảo tưởng, cậu Việt là dân tộc Việt Nam được ăn bánh vẽ . . . ! Cũng giống như trong bài “Lỡ bước sang ngang”, thân phận nước Việt Nam trong tay đảng cộng sản ví như người chị trao thân cho anh lái đò vụng về, dốt nát, để rồi bị đắm đò, chết bi thảm “Coi như chị đã sang sông đắm đò !”. Nhạc sĩ Phạm Duy và nhà văn Hoàng Hải Thủy đúng là hai trong số những độc giả đã có cảm luận đến ẩn dụ nói trên.

Phổ nhạc xong mấy bài thơ Lá Diêu Bông, Cây Tam Cúc, Qua Vườn Ổi của Hoàng Cầm, lúc xuất bản, nhạc sĩ họ Phạm đã đặt cho cái tên là “Hoàng Cầm ca” với dụng ý là thơ Hoàng Cầm có nội dung được hiểu như nói trên. Nhưng sự thực thì chính tác giả Hoàng Cầm đã chối bỏ điều này qua tâm sự : “. . . chẳng biết có phải ẩn dụ ẩn diếc gì chăng, chỉ có điều là qua 48 bài thơ, tôi không phút nào nghĩ đến chính trị và xã hội trước mắt. Tôi chỉ nhìn về một quê hương xa, có thực mà như ảo ảnh, là ảo ảnh mà tưởng như gần gũi đâu đây, cứ chập chờn năm tháng và bảng lảng trời mây, xanh mơ mong manh màu kỷ niệm pha chút tím của tiếc hận, chút hồng của tuổi thơ, chút biêng biếc thắm của say mê, não nùng của thương cảm, không có bến bờ buông neo ! . . .”

Không phải những độc giả nói trên đã cố tình xuyên tạc, gán cho lời thơ những ý nghĩa mà nó không có. Mà cũng không phải ai đọc Lá Diêu Bông, cảm động , thấy hay, đều có cảm nghĩ như thế đâu ! Bởi lẽ sáng tác là quyền của tác giả, nghĩ về tác phẩm là quyền của người đọc.

Góp nhặt và tổng hợp đôi dòng suy nghĩ và xúc cảm qua câu chuyện tình Lá Diêu Bông, người viết xin được thổ lộ nơi đây, để gợi ý quí độc giả lưu ý suy ngẫm xem như thế nào, trong những lúc trà dư tửu hậu, âu cũng là điều không phải không bổ ích cho những ai có máu yêu thích văn chương thi phú vậy!

Thơ Lá Diêu Bông được chuyển sang nhạc Lá Diêu Bông
Có lẽ vì có nhiều độc giả đã ái mộ chuyện tình và bài thơ Lá Diêu Bông, cho nên đã có nhiều nhạc sĩ viết nhạc về đề tài này dưới nhiều nhạc phẩm đặt tên khác nhau, như :
* Nhạc sĩ Phạm Duy viết ca khúc “Lá Diêu Bông” ở hải ngoại vào giữa thập niên 1980 trong tuyển tập “Thấm thoát mười năm”, xuất bản năm 1985. Phạm Duy dùng nguyên văn bài thơ để viết nhạc, chỉ bỏ vài câu đầu và thêm vào cuối bài hát hai câu thơ “Em đi trăm núi nghìn sông, Nào tìm thấy lá Diêu Bông bao giờ !”. Các ca sĩ : – Thái Hiền. – Ý Lan. – Phương Thảo. – Ngọc Lễ. – Hồng Minh.

Nhạc sĩ Trần Tiến đầu thập niên 1990 viết tình ca này dưới nhiều nhạc phẩm mang tên khác nhau, mang âm điệu dân ca, bình dân hơn, nên được nhiều ca sĩ trinh bày, như :
– Nhạc phẩm “Lá Diêu Bông”, ca sĩ: Như Quỳnh + Mạnh Đình, Mỹ Huyền + Thái Châu, Hạ Vân.
– Nhạc phẩm “Đừng trách Lá Diêu Bông”, ca sĩ : – Thu Hiền. – Hạ Vy + Thái Châu. – Như Quỳnh + Tường Nguyên.
– Nhạc phẩm “Sao em nỡ vội lấy chồng”: Tác giả phối hợp hai câu ca dao “Bướm vàng đậu trái mù u, Lấy chồng chi sớm lời ru càng buồn ! ” với ý bài thơ Lá Diêu Bông, để viết nhạc phẩm này: Phạm Ngọc Lân đàn và hát. Các ca sĩ hát bài này gồm: Ái Vân, Hương Lan. Trung tâm Thúy Nga có bảy ca sĩ gồm Minh Tuyết, Hà Phương, Tú Quyên, Ngọc Liên, Thanh Trúc, Loan Châu, Hương Thủy đồng diễn.

Nguyễn Tiến viết nhạc phẩm “Chuyện tình Lá Diêu Bông”, ca sĩ: Thu Hiền, Hạ Vân, Ái Vân.

Trần Thiết Hùng viết nhạc phẩm “Đừng trách Lá Diêu Bông”, ca sĩ: Quang Linh, Thu Thủy, Như Quỳnh, Tường Nguyên, Thu Hiền.

* Vinh Sử viết “Lá Diêu Bông 2″ , ca sĩ: Mạnh Quỳnh.

Di sản văn thơ của thi sĩ Hoàng Cầm
9.12 am ngày 6 tháng Năm, 2011, thi sĩ Hoàng Cầm đã trở về với cõi vình hằng , thọ 89 tuổi, sau một chặng đường dài tham gia kháng chiến chống Pháp, yêu và viết và yêu,  cũng như sống và viết . . . !

Biết yêu từ tám tuổi, cầm bút từ năm 15, 18 tuổi (1940) ông đã có “Hận ngày xanh,” “Bông sen trắng”, làm ngạc nhiên giới cầm bút thời đó không ít ! Năm 20 tuổi (1942) ông có “Hận Nam Quan”, vở kịch thơ lịch sử vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay ! Những năm gần cuối đời, ông còn cho ra “99 Tình khúc” (2007). Có thể nói : cùng với “Lá Diêu Bông”, “Cây Tam Cúc”, “Qua Vườn Ổi” . . . . , tập thơ “Về Kinh Bắc” được viết trong những năm 1959, 1960, đã trở thành là những tác phẩm cốt lỏi, cột trụ trong đời thơ của ông.

Nhà thơ đã có 30 năm sống trong “án kỷ luật”, lặng lẽ ngồi nhà như một vị thiền sư, và hồn thơ của tác giả đã âm thầm đi tìm về Kinh Bắc. Không phải về sau này, tác giả mới tìm về, mà hình như suốt cuộc đời của nhà thơ đã gói trọn trong hai chữ Tìm và Về. Ông tìm về nơi ông sinh ra mà ông đã trọn đời ray rứt nhớ thương “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc”. Ông tìm về với tuổi thơ của mình “Ta con chim cu về gù rặng tre”. Và ông đi tìm về cả những gì không có, hay hoặc chỉ có trong giấc mơ như chiếc lá Diêu Bông nọ “Đi đầu non cuối bể, Gió quê vi vút gọi, Diêu Bông hời . . . ới Diêu Bông ! “. Và bây giờ thì ông đã tìm về với cõi vĩnh hằng rồi !

Cầu xin cho nhà thơ được yên giấc ngàn thu trong cõi vĩnh hằng để được đắm chìm trong những giấc mơ đẹp tuyệt vời của mình như giấc mơ về Lá Diêu Bông.

Thế Đại Nguyễn Thái Đệ
Salt Lake City

 

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: