Ba nén tâm hương

Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp

Tháng Tư Đen, kỷ niệm quốc nạn của Việt Nam Cộng Hòa, xin thắp lên ba nén hương lòng cầu nguyện:

  1. Vẹn lòng trung kiên với tổ quốc Việt Nam và lá Quốc kỳ hồn thiêng sông núi.
  2. Cảm kích, vinh danh đồng đội, chiến sĩ vẹn lòng sắt son chiến đấu đến cùng.
  3. Chia sẻ nỗi đau của thương binh bên lề xã hội và đồng bào bị áp bức khốn khổ lầm than.

Khói hương trầm tỏa ra sưởi ấm những câu chuyện thật ấp ủ đè nặng trong tim.

Hơn bốn mươi năm đất nước đổi màu, dân tình khốn đốn cùng cực phải bỏ mạng, tù đày hoặc lưu lạc tha phương, buồn tủi. Dù đã sống ly hương, tôi vẫn luôn dằn vặt ấp ủ biết bao kỷ niệm xót xa từ người lính vong quốc, trải tấm thân tù đày đáp trọn nợ núi song, đến những ngày ly hương viễn xứ, tị nạn lưu vong.

***

Ba mươi tháng Tư năm 1975, tôi đang điều động không lưu tại phi trường Cần Thơ, căn cứ Vùng 4 Chiến thuật, đến giờ phút cuối thì có lịnh buông súng đầu hàng của chánh phủ “hòa hợp ba ngày”. Tư lịnh Vùng 4 đã tuẫn tiết, đáp trọn nợ núi sông; còn chúng tôi vẫn trọn lòng trung kiên trong lao tù của kẻ cướp nước. Trong cảnh đọa đày hống hách của đối phương, chúng tôi vẫn giữ vẹn lời thề sắt son với hồn thiêng sông núi, mặc dù đã mất trọn màu cờ sắc áo. Trong cảnh khổ sai, bất nhân của kẻ cướp nước, tôi thật mừng thầm vì đã kịp đưa tiễn vợ và đứa con thơ mới một tháng rưỡi “di tản chiến thuật” theo kế hoạch cấp tốc của đơn vị, nên chúng tôi an tâm bảo vệ tổ quốc cho tới giờ phút cuối.

Biết bao nhiêu kỷ niệm suốt đời không quên về những ngày tháng đó, chẳng hạn trong cảnh tù đày phải tẩm liệm và kín đáo nghiêm chào vĩnh biệt bạn bè bỏ mạng trong lao tù khốn nạn. Hay có lần, trong lúc lao động khổ sai, chợt thấy một vệ binh chở một bao gạo trên xe đạp, anh ta hấp tấp dừng lại lui cui hốt đám gạo lủng bao rớt xuống trải dài trên mặt đất. Thấy tôi đứng gần đó, anh ta liền bảo bước ra hốt phụ, xong, tôi hỏi xin lại vài nắm về rửa sạch nấu cháo ăn đỡ đói, tên vệ binh lắc đầu: “Gạo này tao hốt để nuôi heo, không cho mày đâu”!!!

Qua năm năm khổ sai, cơ thể suy sụp lại có bệnh sạn thận nặng đi tiểu ra máu, tôi được chuyển vào bệnh xá nằm chờ thời. Một hôm, trưởng trạm xá là cô y tá trưởng (chỉ huy cả những bác sĩ quân y bị đi cải tạo) gọi tôi lên trình diện. Thấy cơ thể ốm yếu xanh xao, cô hỏi nhỏ “mặt anh xanh quá, bộ anh sợ tôi hả?”. Tôi trả lời “Dạ không phải, tại trưa nắng đi bộ từ trại lên đây hơi xa nên mệt thôi”. Cô Hường mỉm cười ghi hồ sơ, hỏi hai ba điều rồi bảo tôi về trại. Khoảng một tháng rưỡi sau tôi được thả về theo diện “bệnh”. Sau này các bạn cải tạo khác có vào bệnh viện Chợ Rẫy gặp lại cô Hường đang làm việc ở đó với tư cách y tá. Cô không làm công an nữa vì lập gia đình với một sĩ quan cải tạo nên phải ra khỏi ngành công an (chẳng biết ra thật hay giả).

Thêm một kỷ niệm khó quên tại bệnh xá cải tạo Suối Máu, Biên Hòa: Tôi được nằm chung với anh Nguyễn Văn Đông, nhạc sĩ nổi danh, một Đại tá “nặng ký”. Một buổi sáng chúng tôi vừa thức dậy chưa kịp làm vệ sinh thì đã nghe lệnh “biên chế”, tức là chuyển chỗ ở. Anh Đông được khiêng lên văn phòng (vì anh bị thấp khớp nặng, tay chân đều sưng, cử động rất đau). Anh Đông được khiêng lên để nằm dài trên cáng chờ “di tản” khỏi trại, chẳng rõ đi đâu vì không có lệnh tha. Thấy anh nằm dài trên cáng cả hai tiếng đồng hồ, thiểu não, lo âu, tôi mon men tới hỏi thăm. Anh Đông rơi lệ nhờ tôi kiếm chút gì cho anh ăn đỡ đói, đỡ khát. Tôi chưa kịp quay đi thì tên trưởng trại bước thẳng tới chỉ mặt bảo tôi ra ngay lập tức không được tới gần. Hai hôm sau tôi bị gọi lên trình diện trưởng trại, hắn mắng nhiếc tôi, hăm dọa đủ điều rồi cuối cùng hỏi tôi có biết tư tưởng anh Đông thế nào không. Tôi đáp: anh Đông bệnh hoạn di chuyển khó khăn, nhưng lúc nào cũng vui vẻ, ân cần với anh em và an ủi khuyên chúng tôi an tâm cải tạo tốt rồi sẽ được sớm tha về. Sau này mới biết tin anh Đông không phải được về nhà mà được dời từ Suối Máu về Chí Hòa tiếp tục nằm “gỡ lịch”; phần tôi cũng không được nằm bệnh xá nữa mà phải về trại tiếp tục lao động.

Sau năm năm “cải tạo”, tôi mới được thả về theo diện “bịnh”. Ở nhà ba bữa thì các chị tôi xếp đặt cho tôi đi “xuất ngoại”, tức là vượt biên, thay vì phải đi trình diện quản chế với công an phường.

***

Lý do chính tôi phải đi vượt biên ngay là vì vợ con tôi đã di tản sang Mỹ cả rồi, và bản thân tôi cũng đã được thụ huấn chuyên môn ở Mỹ. Nếu vượt biên thành công, chắc chắn tôi sẽ được Mỹ nhận vào. Nhưng rủi thay, đường dây vượt biên của tôi cứ bể hoài nên đã chuẩn bị 12 lần rồi vẫn thất bại, sạch túi.

Một buổi sáng chị tôi đang ngồi trước sân, bất chợt kêu tôi lại nói: “Mày đi cả mười hai lần rồi đều thất bại cả mười hai, chắc ba má còn nắm nuối muốn mày đem ba má vô chùa được yên ổn rồi mới cho mày đi. Vậy phải lo lấy cốt ba má đem gởi vô chùa Phật Bửu Tự, xong rồi xin ba má giúp cho mày đi lần thứ 13, chắc sẽ được” Tôi bảo, lấy cốt ba má thì được thôi, nhưng còn tiền đâu để em đi lần nữa? Chị nói, các chị sẽ lo tiền bạc cho em.

Thế là tôi bắt tay vào việc ngay: lấy cốt cha mẹ, làm lễ gởi vô chùa Phật Bửu Tự; và tôi lại tiếp tục chuyến hải hành thứ 13. Tàu đi suốt bảy ngày tám đêm, vượt qua hai cơn giông bão và một lần chết máy vì tài công phụ đổ lộn bình nước uống dự trữ vô bình chứa dầu; may là thợ máy cứu chữa kịp thời trước khi tàu bể máy. Đêm thứ bảy tàu chúng tôi thấy được ánh đèn của một giàn khoan nên lê lết tới nhờ cứu giúp.

Chỉ huy giàn khoan là một sĩ quan hải quân Mỹ hồi hưu tên là Charles Broom đã tiếp xúc và cung cấp cho chúng tôi thêm dầu, nước và thực phẩm rồi chỉ hướng chính xác cho chúng tôi đi tiếp, hết đêm nay đến đêm mai là sẽ tới trại tỵ nạn, Ông không cứu vớt vì ghe còn tốt, đủ sức hải hành an toàn. Hôm sau, 46 người chúng tôi tới trại Kuku và vài tuần sau có tàu lớn tới rước về trại Galang, bắt đầu cuộc sống tỵ nạn.

***

Tôi nôn nóng tới Mỹ là để nhìn mặt đứa con gái duy nhất của mình đã di tản cùng mẹ lúc mới một tháng rưỡi, nay con đã mười tuổi rồi. Anh tôi từng khuyên ngăn: hãy lo lập thân trước rồi mới tìm con sau, nôn nóng sẽ thất bại.

Nhưng tôi không chờ đợi được, nhất định đi tìm thăm đứa con duy nhất của mình. Đúng như lời tiên đoán của anh tôi, tôi sớm gặp được con và cũng đã… thất bại thê lương. Bỗng dưng thấy một người gầy ốm xa lạ tới trước mặt mình thổn thức xưng là cha, gọi mình là con, đứa bé cũng bất ngờ thổn thức, không phải vì thương cha mà vì lo âu, thắc mắc tại sao nó lại có thêm một người cha, tại sao ông này gọi mình là con? Con tôi đã đáp lại sự chân tình, xúc động, ân cần của tôi bằng sự hững hờ, xa lạ, bất mãn của nó! Dù sao tôi cũng mãn nguyện vì được thấy mặt con mình. Bạn bè, thân quyến đều nhận xét là nó có nhiều nét giống cha. Nhưng con bé không hề thích như vậy.

Dù sao tôi cũng mãn nguyện đã thấy được đứa con duy nhất mình đã hết lòng thương yêu, và tôi cũng đã sớm từ giã San Antonio, trôi dạt tới Westminster ngồi nếm những giọt cà phê đắng tan trong cổ và nhấm cạn tách trà vong quốc, tìm an ủi qua những lời di chúc của thượng cấp: “Đất nước mất là mất tất cả!”

***

Năm tháng dài trôi qua, tôi được làm một “low income employee”, đủ tiền mướn nhà, chứ không mua nhà… và làm swing shift nên luôn về tới nhà lúc nửa đêm. Một hôm tôi đi làm về, lặng lẽ mở hộp thơ đem vô phòng một xấp quảng cáo và một lá thơ nét chữ xa lạ. Bao thơ ghi rõ tên mình và đúng zipcode, nhưng không có địa chỉ, số nhà, chẳng biết sao bưu điện cũng chuyển được tới cho mình. Mở ra, tôi lại ngạc nhiên thêm vì đó là bức thơ đầu tiên của con gái mình. Con tôi cho biết đã lập gia đình hơn hai năm và có một cháu trai đầu lòng. Con muốn gởi lời xin lỗi cha vì những cử chỉ bất mãn, từ chối tình thương sâu đậm của cha, và phân trần là nó không được dạy dỗ đúng đắn để hiểu được những sự hy sinh to lớn của cha cho cuộc sống tốt đẹp, đầy đủ của nó ngày hôm nay. Nó rất hối hận vì thái độ khước từ đầy tội lỗi đã làm gia tăng nỗi mất mát, khổ đau của cha. Cuối cùng con gái giải thích rằng nó viết thơ này là do lời khuyên, giải thích và sự sốt sắng giúp đỡ của chồng, chính chồng nó lên internet tìm tông tích tôi và nhờ cậy sự giúp đỡ đặc biệt của bưu điện để đem giúp lá thơ đầu tiên của con gái đến tận tay cha.

Hôm nay, ngồi dưới ánh nắng ấm của Cali, sắp tới ngày kỷ niệm nỗi đau chung của người dân Việt, trầm luân, khốn khổ, tôi xin trải tấm chân tình chia sẻ với những mảnh đời khổ đau cùng cực của các chiến hữu và đồng bào đang lê thân khổ nhục, mất gia đình, xa người thân, sinh ly tử biệt ở cố hương và ngay cả ở quê hương thứ hai này. Xin gởi tới quý bạn hai bài thi ca (thơ phổ nhạc) nói lên tất cả tâm tình yêu mến quê hương, đồng đội, đồng bào, chiến hữu; hai bài thi ca tôi đã soạn ra để “cởi mở tâm tình”. Trong khuôn khổ bài viết này, nó chỉ là hai bài thơ, không có tiếng nhạc (có cơ hội thuận tiện chúng tôi sẽ cống hiến cả thơ lẫn nhạc)

Giọt máu xẻ đôi

Cuồng phong sóng lừng lững cao

Trùng dương, hãi hùng giông bão

Chiếc thuyền con lảo đảo

Nứt rạn tơi bời,

Rách thịt xé tim

Thác chẳng ai hay

Mặc cho sóng gào đẩy đưa

Tự do, chết nào có sá

Mạng rẻ hơn bèo

Cha đã đến đây

Con ở nơi đâu?

Ngày chia tay lúc con còn thơ ấu

Chốn lao tù, cha đáp nợ núi sông

Giớ thấy nhau: hai giọt máu tương đồng

Nhưng tim con không còn chỗ cho cha!

Từng ngày qua: nâng tách trà vong quốc

Nhớ quê xưa làm tóc bạc tâm sầu

Chiều hôm nay thu sắp tàn bóng xế

Gió thu vàng chuyển nhẹ cánh thư xa

Giờ con đã có mái nhà yên ấm

Người yêu con không chung một ngôn ngữ

Chỉ có cha để thương nhớ một ngày *

Anh tìm thấy tên cha trên mạng lưới

Và giúp con chuyển nhẹ lá thư đầu

Giọt máu xẻ đôi nay lại tương phùng

 

*He praised her as a nice girl

Yet, nicer if she’d ever mind

the lonely mind of her lost father.

He doesn’t inherit oriental culture;

Only observes a western style day

in fevor of an oriental old guy

Adapted to this modern life.

 

Bài 2 : Tấc dạ sắc son

(trình bày theo điệu Dạ cổ hoài lang)

(lời vợ) Từ đàn chim rũ cánh

Em xót xa thấy anh nhiều đêm

Lặng trông tuyết rơi bên ngoài

Rồi buông tiếng thở dài.

Và nâng ý a tách trà

(chồng)   Môi đắng giọt trà vong quốc “A!”

Từng kề vai sát cánh

Nay rã rời kẻ đó người đây;

Ôm ấp bao tâm sự

Thương đứa hồn bay chẳng còn nghe

Giọt sương đọng ướt đôi mi gầy

Ngoài sân tuyết ngập đầy!

(vợ)  Đừng thẫn thờ hỡi anh

Trông lá cờ rợp bóng hùng anh

Trung liệt giữ nguyên câu thề

(chồng)   Không phản bội đồng minh, quốc gia.

(vợ)    Nguyện chứ cho chàng

Cho vẹn tấm gương liệt oanh

Xưa cánh chim tung trời

(chồng)   Nay cánh nhạn vờn bay khắp nơi

(vợ)         Xưa cánh chim tung trời

(chồng)  Nay cỡi hạc lòng không vấn vương

(chồng)  Không phản bội tổ quốc

(vợ)        Không phản bội đồng minh

(chồng)  Những ai đã chết vì sông núi

(vợ)        Sẽ sống muôn đời với núi sông.

401 W. First St. APT. 204  –  Santa Ana, CA 92701

*****

Lời mời gọi cùng viết về “Ký ức 30 tháng 4”

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Phóng sự ảnh: Vượt rào!
Một số chốt chặn tại Hà Nội đã được dựng không phải bằng hàng rào kẽm gai mà bằng những ống cống khổng lồ, như tại phường Long Biên, quận…
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: