Chuyện về những đứa trẻ di dân

Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp

Câu chuyện từ biên giới Mexico-Hoa Kỳ. Truyền thông Hoa Kỳ ngày 31-3-2021 cho biết: Tối thứ ba (ngày 30 tháng 3), các viên chức Hoa Kỳ đã giải cứu hai đứa trẻ ở một vùng hẻo lánh của biên giới tiểu bang New Mexico, Hoa Kỳ và nước Mexico sau khi hai em bị ai đó thả xuống đất từ trên đỉnh của hàng rào biên giới cao 14 feet. Hai bé gái, 3 tuổi và 5 tuổi, được nhìn thấy trên camera khi bị thả qua hàng rào biên giới phía Tây núi Cristo Rey ở New Mexico, gần El Paso. Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ (CPB) cho biết cảnh sát  tìm thấy hai em và đưa đến bệnh viện để đánh giá và làm thủ tục y tế. Video được đăng tải bởi Đội trưởng đặc vụ tuần tra khu vực El Paso cho thấy một người nào đó đang leo lên đỉnh của hàng rào biên giới rồi thả hai đứa trẻ sang phía Hoa Kỳ…

Câu chuyện tháng Tư 2021 về những đứa trẻ bơ vơ ở khu vực biên giới nước Mexico-Hoa Kỳ gợi nhắc hình ảnh Chương trình Di tản Trẻ em Việt Nam (Operation Babylift) vào tháng Tư năm 1975. Và sau đó, hàng loạt trẻ em theo cha mẹ, hoặc đi cùng với thân nhân, họ hàng, thậm chí được cha mẹ “gửi cho người quen biết đưa đi vượt biên”. Sống chết, đến nơi hay không đến nơi đều phó mặc!

Hồi tưởng về những ngày cuối tháng 4-1975, tôi không quên hình ảnh thành phố Sài Gòn, đông đảo các thiếu phụ có con mọn đã hốt hoảng đến điên cuồng. Người ta bồng bế, thậm chí gồng gánh con mình trên đôi gánh, táo tá chạy tìm bất cứ nơi nào có thế “gửi gắm” con trẻ, đặc biệt các nhà mồ côi, các nữ tu viện. Bấy giờ, tại Sài Gòn có một trung tâm nuôi trẻ mồ côi do một số thiện nguyện người Mỹ điều hành, qua một tổ chức có tên là Hội Bạn Thiếu Nhi Việt Nam – Friends of Children of Vietnam (viết tắt là FCVN). Nhiều bà mẹ Việt Nam đau khổ đã dắt díu, quang gánh hoặc bồng bế con mọn đến FCVN van nài người Mỹ ở đó giúp “hoặc trông coi con họ hoặc đưa chúng ra khỏi nước”, mong sao con họ còn được sống, tuy cổng ngõ trung tâm đã khóa chặt vì không còn chỗ, mà cả kho lương thực lẫn kho dự trữ thuốc men cũng đều cạn kiệt vì đứt nguồn cung cấp. Giám đốc FCVN tại Sài Gòn bấy giờ là ông bà Thomas và Cherie Clark.

Về sau, bà Cherie Clark có cho ra đời hồi ký về FCVN tại Sài Gòn những ngày cuối tháng Tư 1975. Cuốn hồi ký của bà Cheria Clark có tựa đề After Sorrow Comes Joy. Theo lời kể của bà Cherie Clark, “vào lúc này, người ta thể hiện tình thương của mình bằng một kiểu cách khác với tập tục, tình cảm thiêng liêng và truyền thống gia đình gắn bó xưa nay của Việt Nam: Thay vì khư khư ôm giữ con mình bất kể sống chết, họ giao phó máu mủ ruột thịt cho những người họ chưa hề biết, với niềm tin tuyệt đối rằng, chỉ bằng cách đó, mới cứu được con, giữ con được sống”.

Bà Cherie Clark còn kể câu chuyện một phụ nữ trẻ mang thai nặng nề chạy tới bên ngoài hàng rào trụ sở FCVN hạ sinh một đứa bé, rồi bỏ đi phó mặc cho FCVN. Lại một thiếu phụ khác bế đứa con đến cổng, không vào được, đã liều mạng rướn người ném đứa con qua bức tường thành. Đứa bé bị treo lơ lửng trên cuộn dây kẽm gai an ninh của bức tường! Thời điểm đó, dân miền Nam rúng động khi nghe tin chiếc máy bay chở trẻ di tản bị rơi ngay tại Sài Gòn ngày 4-4-1975. Đó là chuyến bay đầu tiên chở trẻ em Việt Nam di tản theo Chiến dịch Di tản Trẻ em (Operation Babylift). Chiếc phi cơ Lockheed C-5A Galaxy chở hơn 300 người, đa phần là trẻ em Việt Nam cùng một số người lớn (người Mỹ), cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất. Sau khoảng 67 phút bay, chiếc C-5A gặp trục trặc, buộc phải quay trở lại Tân Sơn Nhất. Nhưng khi chỉ còn cách Sài Gòn khoảng 16 km, nó bốc cháy, rơi xuống đất, hầu như vỡ vụn! Trong số hơn 300 người trên máy bay, chỉ 170 trẻ em và người lớn sống sót, hầu hết bị thương hoặc chấn động tâm lý.

Bất chấp tin dữ, nhiều bà mẹ Việt Nam vẫn tìm mọi cách “đẩy” con mình ra đi, hầu mong con mình không rơi vào định mệnh khốc liệt những ngày cuối cuộc chiến! Quả thực, sau 30-4-1975, miền Nam Việt Nam không có tắm máu, nhưng dân miền Nam không khỏi thấm đẫm nước mắt và đau thương bởi những chiến dịch cải tạo đầy “bạo lực cách mạng” đứng đầu là cải tạo lao động; sau đó là cải tạo kinh tế, cải tạo công thương nghiệp và nông nghiệp, rồi cải tạo văn hóa! Những thứ “cải tạo” chết người ấy cùng thủ đoạn đổi tiền gian manh ác độc và chính sách bế quan tỏa cảng đã tạo nên cuộc khủng bố trắng kinh hoàng khắp Nam Việt Nam.

Bước đường cùng buộc người ta “dĩ đào vi thượng sách”. Vàng bạc tích trữ bao đời nay phải tuôn ra… chạy vượt biên, vượt biển! Chạy công an, chạy biên phòng, chạy cả dân phòng… Sống chết không cần biết! Hàng hàng lớp lớp đàn ông, đàn bà, trẻ em bỏ mạng giữa biển khơi vì hải tặc, vì giông bão sóng gió, vì cạn kiệt lương thực. Vất thây xuống giữa lòng đại dương! Bất chấp! Vượt biên vượt biển trở thành cao trào! Suốt thời gian dài ít ra là 20 năm từ 1975 tới 1995 tại miền Nam Việt Nam, trẻ lai và con cái “ngụy quân, ngụy quyền” còn kẹt lại trong nước phải chịu bao điều khốn đốn, khiến người nhớ tới bài thơ Em Bé Lên Sáu Tuổi của nhà thơ Hoàng Cầm ở miền Bắc XHCN đăng trên Nhân Văn Giai Phẩm hồi năm 1956.

Em bé lên sáu tuổi

Lủi thủi tìm miếng ăn.

Bố: cường hào nợ máu

Đã trả trước nông dân.

Mẹ bỏ con lay lắt

Đi tuột vào Nam…

Chân tay như cái que

Bụng phình lại ngẳng cổ,

Mắt tròn đỏ hoe hoe

Đảo nhìn đời bỡ ngỡ:

“Lạy bà, xin bát cháo,

“Cháu miếng cơm, thầy ơi!”

Nó là con địa chủ

Bé bỏng đã biết gì

Thương em cho bát cháo

Chịu ba ngày hỏi truy (= tra khảo)

Chị phải đình công tác

Vì câu chuyện trên kia

Buồng tối lạnh đêm khuya

Thắp đèn lên kiểm thảo (= viết kiểm điểm)

…..

Nào “liên quan phản động”

“Mất cảnh giác lập trường”…

Em bé sáu tuổi (hồi năm 1956) có cha bị diệt (giết chết) vì là “địa chủ cường hào”, mẹ trốn vào Nam, còn lại một mình, “chân tay như cái que- bụng phình lại ngẳng cổ” đói rách cùng cực, xin ăn, chẳng ai dám cho, trừ một cô công nhân lén “cho bát cháo”. Cô bị kiểm điểm về tội “liên quan phản động- mất cảnh giác lập trường“… và rồi mất việc! Chỉ trừ cộng sản lòng lang, người Việt Nam ai mà không đồng cảm với cô công nhân nhân đạo lén cho đứa bé vô phần bạc phước kia bát cháo tình thương?

Bản thân chúng tôi có ba cậu trai, ba cô gái. Cậu trai lớn sinh năm 1968, cậu em sinh năm 1971 và đứa con trai thứ ba sinh năm 1973. Tháng Tư 1975, trong cơn hốt hoảng ở cuối cuộc chiến, tôi đã vội vàng “đẩy” hai cậu trai lớn, đứa 7 tuổi, đứa 4 tuổi, di tản theo đám trẻ Chiến dịch Di tản Trẻ em. Hai con trai tôi vô tăm biệt tích suốt 15 năm mới tìm ra và đúng 16 năm mới được đoàn tụ cùng gia đình. Riêng đứa bé trai còn lại của tôi lúc bấy giờ chỉ hơn hai tuổi, “bé bỏng nào biết gì”! Nó lớn lên trong môi trường xã hội chủ nghĩa, theo học nhà trường xã hội chủ nghĩa, “được dạy dỗ bởi các thầy cô xã hội chủ nghĩa”. Vậy mà nó không được yên ổn để mà học. Nó liên tục bị “cán bộ lớp, đội khăn quàng đỏ”  bám chặt theo dõi, đánh giá “hạnh kiểm lý lịch xấu” chỉ vì nó là con của “ngụy ác ôn”. Cô giáo của nó – giáo viên từ miền Bắc được điều vào Nam – liên tục thóa mạ “bọn ngụy quân-ngụy quyền ác ôn đáng tội chết” và ra lệnh cho học sinh trong lớp tránh “tiếp cận”, “quan hệ” với bọn con cái “ngụy ác ôn”! Quê hương tôi không còn đâu nữa giềng mối “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” giữa người với người! Từ trong gia đình tới trường học, hàng xóm láng giềng và xã hội không còn nữa tình người mà chỉ thấy hận thù chồng chất, đặc biệt nhằm vào thành phần chế độ cũ!

Băng hoại về mọi mặt trong xã hội Việt Nam hôm nay, thậm chí cả trong các học đường xã hội chủ nghĩa, có thể nào đổ lỗi được chăng cho chế độ cũ bị gắn nhãn “văn hóa đồi trụy Mỹ-ngụy”? Câu hỏi “liệu những đứa trẻ đã được đưa đi có thực sự hạnh phúc hơn…” mà truyền thông Cộng sản nêu ra và tự trả lời thế nào, chúng ta có lẽ ai cũng đã thấu hiểu.

Suốt nhiều năm đầu sau 30-4-1975, chúng tôi sống triền miên trong đau khổ. Những đứa con còn ở lại với chúng tôi không hề thấy đâu là bóng dáng hạnh phúc. Cha chúng nó bị giam cầm trong chốn ngục tù lao động khổ sai. Các bà mẹ xấu số và bản thân các em từ cuộc sống phố thị nay bị đuổi về đồng ruộng nông thôn hoặc bị tống vào vùng “kinh tế mới” nơi rừng thiêng nước độc. Các bà mẹ phải lam lũ gục đầu xuống gốc rạ, tay lấm chân bùn lao công cực nhọc cho những cái gọi là “hợp tác xã nông nghiệp”, không hề tạo ra nổi cái ăn cái mặc cho những đứa con của mình.

Cuối năm 1981, từ nhà tù khổ sai gọi là “trại cải tạo”, tôi được “trả tự do”. Thằng con bé bỏng tôi hôm ấy tới trường, đã “hồ hởi phấn khởi” khoe với bạn bè chuyện cha nó “mới được về từ trại cải tạo”. Cô giáo vào lớp lên giọng: “Các trò phải hết sức đề cao cảnh giác trước âm mưu thâm độc của Mỹ-ngụy! Những tên ngụy ác ôn học tập cải tạo về đều có nợ máu với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đảng ta chiếu cố khoan hồng, cho về địa phương. Tuy nhiên, trong bọn chúng hãy còn nhiều phần tử ngoan cố, nhất là bọn cảnh sát ác ôn, chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, kể cả cài con cái chúng làm tình báo Xê-I-A (CIA)… âm thầm đánh phá Đảng và Nhà nước”.

Kết

Cho đến khi rời khỏi đất nước ra để định cư tại Hoa Kỳ, những đứa con còn lại với chúng tôi chưa đứa nào may mắn lãnh hội được trình độ học thức căn bản. Những đứa con còn lại với chúng tôi tại Việt Nam thật sự “giữa đường đứt gánh” nếu chúng tôi không đặt chân đến đất nước Hoa Kỳ để đoàn tụ cùng hai đứa con trai thất lạc đã 16 năm. Chính trên đất nước Hoa Kỳ, con cái chúng tôi có được cơ hội làm lại cuộc đời, hấp thụ nền giáo dục tân tiến, để chúng có điều kiện tiến thân cả về mặt tri thức lẫn đời sống xã hội. Chúng tôi sống chan hòa trong tình người với mọi sắc dân khác, tuy rằng Hoa Kỳ chưa hẳn đã hoàn hảo về tâm lý chủng tộc vùng miền.

*****

Lời mời gọi cùng viết về “Ký ức 30 tháng 4”

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: