Những điều không thể quên

Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp

Thời gian vun vút, thắm thoắt mới đó mà đã mấy chục năm trôi qua. Nghĩ đến thân phận lưu vong lại nhớ về ngày 30 tháng Tư năm 1975, buồn lòng không ngủ, tôi mở computer đọc được thông báo của Saigon Nhỏ, mở cuộc thi viết “Như chỉ mới ngày hôm qua”. Tôi miên man suy nghĩ, đúng như đầu đề cuộc thi, trong tôi, cái ngày phải buông súng đầu hàng, “nó” vẫn như chỉ mới hôm qua. Những điều không muốn nhớ nhưng vẫn không thể quên. Tôi là một anh ký quèn, đối với chế độ mới chắc cũng không đến nỗi phải buộc tội mang “nợ máu”, thế nên tôi đã ở lại quê hương, không theo chân cùng đoàn người đi tỵ nạn.

Lầm!

Đơn vị tôi ở trong phi trường Tân Sơn Nhất, việc leo lên tàu bay theo đồng bạn không khó khăn gì, thế nhưng tôi đã lầm vì tin rằng chế độ nào thì cũng vì nhân dân.

Sau thời gian “học tập” tại địa phương nói về chủ nghĩa xã hội, về sự khoan dung của đảng và nhà nước, gia đình tôi vùi đầu vào việc lén lút kiếm sống nhưng cũng không thoát được sự cấm chợ ngăn sông, xách cái giỏ đem vài thứ dư thừa ra chợ trời bán, nếu xui rủi cũng bị tịch thu. Vợ tôi có một tiệm may nho nhỏ cũng bị buộc vào hợp tác xã và cũng bị cưỡng bức phải đem máy may tập trung mà không được kể là vốn của mình và phải đến hợp tác xã làm, mỗi tháng được trả công 15 ký gạo và “tem phiếu” thực phẩm.

Con tôi nộp đơn xin làm công nhân hỏa xa cũng phải đến phường xác minh lý lịch và bị công an khu vực phê vào đơn “thành phần gia đình di cư, con ngụy quân ngụy quyền, có vấn đề.” Thế thì cơ quan nào dám cho làm việc. Chưa hết, mỗi tuần họp tổ dân phố chúng tôi lại bị “vận động đi vùng kinh tế mới”. Nói là vận động nhưng thực tế gần như bắt buộc với lời đường mật là gia đình nào đi kinh tế mới có người thân “học tập cải tạo” sẽ được đảng và nhà nước chiếu cố cho về sớm, sum họp với vợ con.

Trong lúc quẫn trí, tôi đã có lần bàn với vợ: thôi thì trời sinh voi sẽ sinh cỏ, ở đâu cũng phải làm mới có ăn, mình thử dò la xem nên đến vùng kinh tế mới nào? Nhưng đến khi hỏi ra mới biết là đảng chỉ định, không cho phép tự chọn, mà nơi đến toàn là chỗ khỉ ho cò gáy, biết bao gia đình đã cố công bới đất nhặt cỏ ở những nơi đó để kiếm miếng ăn, thế mà cũng không đủ cái để vơ vào miệng cho cả gia đình. Ăn đã vậy, ở còn khổ hơn, chỉ một căn lều tự chế mà cả nhà chui rúc. Thời tiết nắng mưa khắc nghiệt, muỗi mòng ở nơi hoang dại đem lại đủ thứ bệnh. Lúc bệnh, nếu còn sức đưa được người bệnh đến trạm xá xa xôi thì thuốc men cũng chỉ là những viên xuyên tâm liên, may mắn lắm thì được cấp vài thang dược thảo. Cái cảnh như thế, những người quen sống ở thành phố, chưa bao giờ tưởng tượng ra. Thế nên có nhiều gia đình nếu may còn toàn vẹn chưa có người phải vùi xác ở kinh tế mới, lại bồng bế nhau trốn về thành phố, lén lút sống cảnh đầu đường xó chợ, nhiều người còn nhà nhưng cũng không được phép “đăng ký tạm trú”.

Chuyện khóc hay cười?

Nhân viết đến đây, tôi xin kể một câu chuyện mà sự thể nó chỉ có thể xảy ra ở cái nơi gọi là “ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” (năm 1978). Câu chuyện cười ra nước mắt:

Tôi có người bạn thân mà bố anh ta là một sĩ quan thủy quân lục chiến. Anh bạn tôi thương bố, nghe theo tuyên truyền “ai đi kinh tế mới thì người thân đi cải tạo sẽ sớm được về”. Thế là anh ta tình nguyện xung phong cắt hộ khẩu, xin cho mình đi trước, khi nào ổn định nhà cửa sẽ đón vợ con đi sau. Một hôm được tin mẹ đau nặng, anh phải về nhà để đi thăm nom. Bất ngờ đêm đó công an đi xét hộ khẩu và anh bị bắt với lý do “tạm trú (nhà vợ) mà không đăng ký!”. Sáng hôm sau họ tha anh với lời tự kiểm “lần sau không được tái phạm”.

Câu chuyện như thế làm bạn khóc hay cười?!

Lại xin được nói về “cái thằng tôi” vốn thuộc loại dài lưng tốn vải, sau một thời gian “chà đồ nhôm”, tôi theo bạn bè lọc cọc đạp xe đạp đi khắp hang cùng ngõ hẻm mua “răng vàng bạc vụn”, đồng nát, ve chai… Thực tế là để che mắt phường khóm, không mang tiếng “ăn bám xã hội”, mặc dù xã hội – xã hội chủ nghĩa chẳng có cái quái gì để bám, ngoài việc lâu lâu phát cho dân nghèo cái “tem phiếu mua vải” để may áo quần. Mà nực cười ở chỗ, phát cho một xuất vải, thay vì là một miếng vải lớn thì lại thành hai miếng, thậm chí có khi hai màu khác nhau. May áo thì không đủ, mà may quần thì thiếu áo! Viết tới đây, tôi lại kể hầu độc giả một chuyện cười khác:

Ở xóm tôi, có một bà giáo, vốn là gia sư của nhà tôi, hay bực mình vì cứ phải nhìn thấy đa phần cán bộ nữ ở miền Bắc vào (khoảng năm 1978) đều mặc “quần vòi voi, áo cũn cỡn” (không phải là kiểu dáng gì mà do thiếu vải, như đã nói ở trên). Bà cụ sai con cháu phải may cho bà cái quần hai màu bên trắng bên đen, mỗi khi đi họp tổ dân phố bà đều mặc cái quần đó và luôn tranh ngồi hàng đầu. Một hôm có công an khu vực đến giảng huấn và “viết thu hoạch” (?). Anh ta nhìn thấy bà cụ mặc quần như thế, bèn phê bình cái tội “già không nên nết”, ăn mặc lố lăng, và bắt bà viết kiểm thảo tại chỗ. Chẳng biết bà viết lách ra sao mà sau buổi họp, bà bị dẫn về phường để “làm việc”.

Cùng xóm với nhà tôi, có một trung tá quân đội VNCH. Ông là người Việt nhưng gốc Ấn Độ, có vợ là người Pháp lai (ông mất rồi nên xin được không nêu tên), trước ông giữ chức vụ Đặc Khu Trưởng Đặc Khu Rừng Sát. Sau 30 tháng Tư, ông phải đi “học tập cải tạo” qua nhiều trại giam, từ Nam ra Bắc, chết trong nhà tù và đau đớn cho gia đình ông là không được nhà tù thông báo để đi nhận xác. Thế là ông biệt vô âm tín. Thương thay.

Đốt sách

Tần Thủy Hoàng, một bạo chúa người Tàu, đã đốt sách và chôn sống học trò. Tội ác đó từ cổ đại tưởng rằng sẽ không bao giờ lập lại, ấy thế mà, ở thời điểm văn minh, con người đã tiến đến các ngôi sao ngoài trái đất, bọn Việt Cộng vẫn ngu xuẩn tái diễn cái trò đốt sách. Sau 30 tháng Tư 1975, bọn chúng cho người đến từng nhà lục lọi tịch thu và đốt bỏ, bất kể loại sách gì. Nhà tôi có một bộ sách Đông y và Tây y, vẽ hình nam nữ với đầy đủ các bộ phận cơ thể. Bọn chúng “phán” là khiêu dâm, đồi trụy, lệnh phải đốt!

Người xưa nói: lịch sử sẽ có thể lập lại dù tiêu cực hay tích cực. Ôn cố tri tân là điều cần thiết. Bọn cộng sản thường luôn mồm chê người xưa là phong kiến, hủ lậu, mà không tự nhìn mình, đốt sách là một ví dụ. Sang Mỹ tôi được biết, có một nhà văn đã bỏ nhiều công sức và tiền của để sưu tầm và lưu giữ những cuốn sách còn sót lại, một việc làm rất ý nghĩa và thực tế, để bảo tồn nền văn hóa một thời của Việt Nam Cộng Hòa. Tôi hết lòng hoan hô, cổ xúy và ghi ơn nhà văn đó.

Chuyện ngoài Bắc

Năm 1978 hay 1979 gì đó, tôi xin được phép địa phương cho ra Bắc để thăm anh ruột là cựu trung tá công binh đang bị giam ở trại Ba Sao. Chuyến đi này, tôi được gia đình bà con ngoài Bắc kể lại nhiều chuyện cười ra nước mắt. Như chuyện  người cháu của bố tôi, anh có đi lính cho Pháp và được mang lon đội (trung sĩ) nên sau này thường được gọi là ông Đội. Trong thời gian này đang có cuộc cải cách ruộng đất rất ác liệt, ông Đội bị ghép hai tội: theo giặc và cậy quyền, hiếp dâm, ông bị tuyên án tử hình.

Trong cuộc đấu tố ông, sau khi bị sỉ nhục nhổ nước miếng vào mặt và đánh đập, thì đột nhiên có một “bà cốt cán nông dân” nhảy cỡn đến gần ông và nói “thằng đội Tây kia, mày đã hiếp bà đến hai lần, mày có nhận tội không?”. Ông vụt đứng dậy nhưng bị cán bộ đấu tố đè xuống, đành chịu trận nằm im dưới bàn chân của những tên “tân đao phủ”. Bỗng ông hét to lên “Thưa bà nông dân, thực ra con đã hiếp bà ba lần, chắc bà sướng quá nên quên mất một lần đấy!”. Đấu trường ồn lên: “đả đảo – đả đảo”!!!

Câu chuyện “ba lần quên một còn hai” tưởng đến đó là hết nhưng vẫn còn hồi hai, tuy không đau thương nhưng rất bi hài, do chính đương sự đã kể lại câu chuyện trước mặt cả gia đình:

Trong khi đang chờ thi hành án, tức là chờ xử bắn, ông bị dẫn đi khắp các đấu trường để tuyên truyền, đây là kẻ đã phản bội giai cấp bần cố nông, thành phần chủ lực của đảng. Đến đâu ông cũng bị sỉ nhục và ném đá, người ông teo lại như con mắm khô, chỉ còn da bọc xương, vì đói khát… Một hôm ông nghĩ thà chết đâm còn hơn chết đói, ông lén trốn vào rừng những mong cho hổ vồ, đằng nào cũng chết. Nhưng khổ nỗi hổ đâu còn nữa, vì cán bộ và dân quân đi săn tối ngày. Ông đi thất thểu lang thang rồi bị quỵ xuống ngất đi, một lúc sau, tỉnh lại, ông nhìn quanh ngó quẩn và nhận ra ở bên đường có một ruộng bí đỏ, ông lết đến và vùi đầu cố nuốt hết một trái to, những mong ăn, nhét cho đầy bụng để bội thực mà chết. Nhưng thần chết vẫn cất lưỡi hái tử thần, tha cho ông.

Sau ba ngày đi tìm cái chết, ông bị bọn cai ngục tìm bắt được.Và lần này, sau khi về đến trại, ông lại được một may mắn nữa. May mắn đến tột đỉnh, cải tử hoàn sinh khi ông được trại tuyên bố là sẽ tha ông và ông được dẫn về làng. Trên đường đi, ông được bọn áp tải cho ăn uống no. Chính vì cái việc được cho ăn no bụng, ông lại nghĩ quẩn: “Chắc nó xử tốt là mình sẽ sắp bị hành hình”, vì ông từng nghe các cụ già nói: trước khi bị giết, bao giờ cũng được ăn uống tử tế và được nói lời cuối cùng. Thế là từ đó, cơm canh ngon lành để ra trước mặt ông vẫn không sao nuốt được!

Chuyện đời khi thực khi hư

Thực thì muốn khóc mà hư lại cười.

***

Phần trên nói về các sự thể đã và đang diễn ra thời còn ở trong nước. Phần này tôi muốn nói về Hoa Kỳ, một quốc gia, cùng với nhiều nước trên toàn thế giới đã giang tay mở lòng cứu giúp người Việt tị nạn chúng ta, từ vật chất đến tinh thần.

Chúng ta đang ở đây, được an cư lạc nghiệp, đều dưới danh nghĩa “tỵ nạn cộng sản”. Chúng ta trốn chạy sự độc ác, tàn bạo, vô nhân đạo, vô luật pháp. Sợ bị đấu tố, sợ bị tù đày, sợ bị vu oan, ghép tội rồi bắt đến đồn công an thẩm vấn, dưới mỹ từ gọi là “làm việc” để rồi chỉ vài giờ đồng hồ sau, gia đình được báo là nạn nhân đã treo cổ tự chết, nhưng trên người đầy những vết thương chí mạng. Thậm chí, chỉ vì viết hoặc nói ra những sự thật về đảng và nhà nước, cũng bị mang những bản án rất nặng nề, bị tù đày, để người mạnh khỏe bỗng thành kẻ tâm thần, tống vào nhà thương điên! Than ôi!

Tôi không dám vơ đũa cả nắm, cũng có người đem trí não, tiền của về nước những mong chung lưng đấu cật, góp sức để xây dựng Tổ Quốc, nhưng cuối cùng, không sớm thì muộn cũng ôm hận, bỏ của chạy lấy người, trắng tay. Chúng ta ở đây, hay ở các nước tự do khác, con cái được ăn học tử tế, có nhiều người đã đạt bằng cấp cao, làm nên danh phận, thậm chí còn nổi tiếng thế giới. Ai cũng có công ăn việc làm, chẳng những đủ nuôi sống vợ con mà còn có thể dư dả để gửi về Việt Nam cho họ hàng thân thích. Người già thì được chăm sóc ăn ở, bệnh nhẹ có thuốc men, bệnh nặng có nhà dưỡng lão.

Quốc gia nào và ở thời điểm nào cũng có những nhân tài, chính trực, và bên cạnh đó, cũng có những kẻ xu nịnh, theo đóm ăn tàn, phản bội, mãi quốc cầu vinh.

Tôi vẫn cầu mong hồn thiêng sông núi và Quốc Tổ ngàn đời Việt Nam phù trì cho nước nhà sớm có được minh quân, xứng danh là con Hồng cháu Lạc, đưa quốc gia vững mạnh đua tài với bốn bể năm châu.

California, ngày 6 tháng 4, 2021

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Phong tỏa hay nhốt tù?
Đây là cách mà chính quyền địa phương ở Sài Gòn và một số tỉnh miền Nam “phong tỏa”. Sự hỗn loạn trong cuộc chiến chống Covid-19 ở Việt Nam…
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: