Tháng Chín… nhớ

Share:
Minh họa: pexels-quang-nguyen

Kỷ niệm trong tôi như dòng sông ký ức chảy lặng lẽ, êm đềm và sâu lắng, có lúc tưởng như sẽ ngủ yên tới cuối đời… Năm tôi đậu Tú tài 2, tôi không đủ giỏi để thi vào các trường Y, Nha, Dược, Phú Thọ hoặc Kiến Trúc, Nông Lâm Súc; nên tôi thi vào trường Sư phạm Sài Gòn học hai năm ra dạy tiểu học, vậy mà con nhỏ cũng khá, đậu hạng 119 trên gần 1,000 thí sinh ghi danh thi.

Thật ra lúc đó tôi chưa  có ý thích mình sẽ trở thành một cô giáo, nhưng rồi suốt hai năm, tôi đã học với những thầy cô từ người còn trẻ đến các vị lớn tuổi, người nào cũng tận tâm truyền dạy cho giáo sinh những kiến thức cùng kinh nghiệm quý báu mà các vị đã trải qua trong cuộc đời dạy học của từng người, chúng tôi như thấm nhuần lòng nhiệt thành đó, cũng hăng say học hỏi, và tôi đã yêu thích nghề giáo lúc nào không hay.

Từ những môn học chuyên môn như nguồn gốc tiếng Việt, cách ráp vần ngược vần xuôi , đặt câu, văn phạm, ngữ  pháp… đến những kiến thức tổng quát như nhạc lý, thể thao, sinh hoạt học đường;  rồi còn có những buổi  dự thính là vào lớp xem giáo viên dạy sau đó chia nhóm rút tỉa kinh nghiệm, chính mỗi người chúng tôi cũng tự soạn bài đứng lớp dạy, trong khi bên dưới là bao nhiêu cặp mắt của bạn cùng học, của giáo viên phụ trách lớp, và của thầy cô hướng dẫn chúng tôi nữa. Lần đầu tụi tôi đứa nào cũng run cũng khớp, nhưng rồi vài lần cũng quen đi và thấy việc lên lớp dạy không còn khó khăn nữa.

Hồi đó trường Sư Phạm Thực Hành ở đường Trần Bình Trọng là nơi thực tập chính, năm thứ nhất chỉ dự thính; năm thứ hai mới bắt đầu lên lớp dạy nhiều buổi; chúng tôi dạy đủ các cấp lớp và các môn học, trừ Lớp 5 là lớp chót của bậc tiểu học, cuối năm các em phải thi vào Lớp 6 trường công lập; cho nên các thầy cô sợ giáo sinh thực tập không đủ kinh nghiệm dạy.

Một kỷ niệm thật đáng nhớ với tôi là hôm đó tôi có giờ dạy ở Lớp 2 tiết học đầu tiên viết chính tả, sáng sớm tôi đạp xe đến trường, chuông reo tới giờ học tôi bước vào lớp, các em đứng lên nghiêm chào lễ phép, rồi em trưởng lớp hô to bắt nhịp 2, 3, cả lớp đồng thanh hát lên thật đều “Đây trời bao la ánh nắng mai hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh…

Các em say sưa hát trọn bài “Nắng đẹp miền Nam” của nhạc sĩ Lam Phương, bài hát mà tôi rất thích và thuộc lòng từ nhỏ; trong khi hát các em vẫn đứng nghiêm chỉnh, xong bài hát các em cúi đầu chào rồi ngồi xuống. Tôi nhìn từng gương mặt của các em lúc đang hát thật  hồn nhiên trong sáng khiến lòng dâng lên niềm xúc động vô cùng. Có thể các em chưa hiểu hết ý nghĩa của bài hát vì các em mới học Lớp 2, nhưng để tập cho các em thuộc hết cả bài và hát đều giọng không phải là dễ, tôi thật khâm phục công khó của cô giáo phụ trách lớp.

Buổi dạy hôm ấy của tôi được các bạn, giáo sư hướng dẫn và cô giáo lớp khen ngợi và nhận xét tốt, cho điểm cao; chẳng phải tôi là một giáo sinh xuất sắc mà vì hôm ấy tôi đã dạy các em bằng sự xúc cảm thật lòng khi nghe lại bài hát quá hay. Cho tới bây giờ mấy chục năm qua rồi nhưng tôi không bao giờ quên kỷ niệm đáng yêu đó. Lúc ấy tôi đã tự nhủ khi ra trường dù nhiệm sở ở đâu tôi vẫn nhận mà không ngại xa xôi khó khăn, tôi nhất định sẽ đến với các em học sinh của tôi.

Chúng tôi thi tốt nghiệp đầu Tháng Tư năm 75 và sẽ được phân công  vào Tháng Chín đầu niên học mới. Thời gian nầy cả miền Nam đang sôi động vì chiến cuộc gia tăng mãnh liệt từng ngày rồi sau đó là cảnh đổi đời. Khóa học của chúng tôi là Khóa 12, khoá cuối cùng học đủ hai năm của trường còn mang tên trường Sư phạm Sài gòn, sau Khoá 12 còn Khoá 13 nhưng các bạn mới học có một năm, sau đó trường đã đổi tên khác, ban lãnh đạo mới đã phân công chúng tôi đi khắp các tỉnh từ miền Trung tới vùng đất mũi cuối cùng của miền Nam.

Một số các bạn đã không vào lớp từ sau ngày 30 Tháng Tư, phần tôi và vài bạn về một trường nhỏ sát bờ biển gần khu nước suối Vĩnh Hảo và mỏ muối Cà Ná, sát Phan Rang. Tôi dạy Lớp 4, nam nữ học chung, các em học sinh ở đây gia đình hầu hết sống bằng nghề đi biển đánh cá, bởi thế có ngày vào lớp thấy vắng hoe, hỏi ra mới biết hôm ấy ghe nhà đi biển về, các em phải nghỉ học phụ cha mẹ gỡ cá mang lên bờ đem bán. Đời sống của các em học sinh lúc nào cũng rất cơ cực, khó khăn, việc đến trường của các em không phải là điều quan trọng trong khi cha mẹ phải chạy kiếm ăn hàng ngày.

Trong lớp có em trưởng lớp là trai còn phó lớp là gái, hai em học rất giỏi và siêng năng. Có bữa hai em cũng nghỉ học giúp cha mẹ, nhưng khi trở lại lớp bài vở vẫn đầy đủ, tôi vẫn nhớ mãi trong đầu hình ảnh của hai em nầy, Phụng là tên em trai và Ba là tên em gái. Trường học ở sát bờ biển nên có nhiều buổi sáng thấy bãi cát bên hông trường lầy lội nước, tôi thắc mắc hỏi các thầy cô địa phương thì được biết đêm qua nước lớn tràn vào sân trường, hiện tượng nầy xảy ra rất thường tại các trường học ven biển; có khi nước còn tràn vào ướt cả các lớp học, hôm sau học sinh vào không học được phải về. Có đôi khi trong đêm nước triều lên cao vào sâu bờ quá, sáng hôm sau mới hay tin có nhà của em học sinh nào bị nước tràn vào làm sập, may là không có thiệt hại nhân mạng, đời sống cuả người dân miền biển thật trăm bề vất vả khó khăn.

Ở miền biển ngoài những con sóng to hung dữ cuốn trôi nhà cửa, còn có nhiều nét đáng yêu của biển. Có những sáng chủ nhật, trời mới mờ sáng đám nữ giáo viên chúng tôi hẹn nhau thả bộ theo vòng cong của bờ biển ra tận Phan Rí cửa, chỉ cách khoảng 5 cây số, vừa hít thở không khí trong lành của biển, vừa nhìn cảnh người dân chài chuẩn bị ra khơi hay ghe cá cập bến về. Rồi có những đêm trăng sáng chúng tôi đi dạy lớp bổ túc văn hóa về, bước chân trên bãi cát rợp ánh trăng vàng thật nên thơ. Những ngày nghỉ học trời nắng đẹp, cả thầy trò rủ nhau xuống biển nhặt vỏ ốc, các em đã tìm cho tôi những vỏ sò vỏ ốc biển thật lạ, các em còn bày cho tôi áp vỏ sò vào sát tai để nghe tiếng gió  biển hú thật huyền bí.

Các học sinh miền biển quá ngây thơ, chân thật, giản dị dễ thương. Thời gian đó tôi chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ bỏ nghề dạy học, vậy mà một thầy giáo lớn tuổi trong lần họp mặt các thầy cô, thầy nhìn chữ ký tên của tôi và nói liền chắc chắn tôi sẽ bỏ nghề dạy học nầy không lâu đâu, lúc nghe thầy nói tôi chỉ mỉm cười không tin. Vậy mà thế đấy, tôi đã bỏ trường bỏ lớp bỏ các em sau lần về thăm nhà ở Sài Gòn, gia đình tôi đã liên tiếp xảy ra nhiều chuyện buồn mất mát người thân, ba tôi khuyên tôi nên ở lại nhà đừng trở ra miền Trung dạy học nữa, thêm một đứa đi xa ba lo lắng.

Thương ba quá khi thấy ông vì buồn chuyện nhà mà gầy đi rất nhiều, mái tóc ba bạc trắng và ánh mắt ba đầy vẻ mệt mỏi, thế là tôi bỏ dạy mà lòng vô cùng tiếc nuối, nhớ trường, nhớ lớp, nhớ học sinh vô cùng. Sau đó bạn tôi viết thư kể lúc bạn được ông hiệu trưởng nhờ dạy thế lớp tôi trong khi chờ giáo viên mới, ngày bạn gặp cả lớp báo tin tôi ở luôn trong Sài Gòn không trở ra dạy nữa, có một số em đã khóc vì thương mến cô giáo Sài Gòn, các em đâu biết rằng cô giáo cũng đã bật khóc khi đọc thư vì thương các em học trò của mình.

Nỗi buồn rồi cũng nguôi ngoai theo thời gian, và đúng như lời tiên đoán của ông giáo già ngày nào, tôi đã không bao giờ trở lại nghề dạy học nữa mà làm những việc khác không liên quan chút nào đến nghề giáo. Thỉnh thoảng tôi chạnh nhớ lại lớp học  ven biển năm xưa, không biết trong số các học sinh cũ có em nào học hành thành đạt, vươn lên khỏi cái xóm chài nghèo nàn cực khổ để có một đời sống khá hơn. Hay lại vì hoàn cảnh phải bỏ học giữa chừng, vẫn vương mang cái nghề chài lưới bữa đói bữa no? Mỗi lần nghĩ đến là thấy thương tuổi thơ Việt Nam ở các vùng quê, trải qua nhiều thế hệ vẫn nghèo nàn lam lũ, vẫn chân lấm tay bùn, các em đến trường với muôn vàn khó khăn thiếu thốn.

Bẵng đi nhiều năm sau, tôi đến Hoa Kỳ. Trước khi đi định cư, tôi vẫn mang trong đầu ý nghĩ là sau khi ổn định cuộc sống ở Mỹ, tôi sẽ tìm cơ hội trở lại cái nghề dạy học lúc xưa. Nhưng rồi ngày qua ngày hai vợ chồng đi làm suốt, tối về ăn vội vã rồi đi ngủ lấy sức để hôm sau lại bắt đầu một ngày làm việc mới, với nhiều vất vả lo toan. Bên Mỹ nầy người ta phải chạy đua với thời gian nhiều quá. Tôi đã nhiều lần tự trách mình không có ý chí cương quyết vượt qua khó khăn nếu tôi chọn lựa cái nghề theo ý thích của mình. Bây giờ đã muộn cho một sự bắt đầu lại, thời gian qua đâu bao giờ chờ đợi ai! Tôi có con và tôi phải sống vì con, vì tương lai của con chứ không thể chỉ nghĩ cho mình hoài được nữa. Tôi đi làm ít giờ hơn, thời gian còn lại đưa đón con đi học, chăm sóc cho con.

Lúc con tôi học tiểu học, nhiều lần đứng ở cổng trường chờ đón con, nhìn các em vô tư chạy nhảy trong sân trường, tôi đã chạnh lòng nhớ lại mái trường ven biển năm xưa và hình ảnh các em học sinh chất phác hiền lành mỗi sáng đi bộ đến trường. Nhiều em đi chân đất không có được đôi dép mang, quần áo có khi vá nhiều chỗ, màu áo trắng đã bạc, chiếc quần xanh cũ kỹ phai màu, đôi khi còn thoảng mùi  mằn mặn của muối biển… Tuổi thơ ở vùng quê nghèo Việt Nam không được sung sướng đầy đủ như tuổi thơ bên Mỹ.

Con tôi sinh ở Mỹ nên tiếng Mỹ đối với nó như là ngôn ngữ chính. Vì không muốn con quên tiếng Việt, nên lúc con vào Lớp 1 trường Mỹ thì tôi cũng bắt đầu cho con học tiếng Việt tại một trường Việt ngữ ở khu Little Saigon. Bởi vậy, tuy học trường Mỹ, nhưng con tôi nói, đọc và viết được tiếng Việt, tất nhiên là không thông thạo như trẻ em ở Việt Nam. Một số cựu giáo chức của miền Nam ngày trước nặng lòng với tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại, ưu tư với sự tồn tại của tiếng Việt, không muốn các em thành người mất gốc, nên đã thành lập những trung tâm dạy tiếng Việt vào ngày cuối tuần, với thời gian học thật ít ỏi, 2, 3 giờ học ngày Chủ Nhật.

Tất cả đều do những tấm lòng tự nguyện thiết tha bảo tồn để tiếng Việt không bị mai một nơi xứ người. Con tôi đã theo học tiếng Việt suốt mấy năm, dù chỉ là mỗi tuần ngày Chủ Nhật vài giờ. Ngày bãi trường của niên học cuối cùng, con tôi đã độc tấu violin bài “Trường làng tôi”. Bằng một giọng tiếng Việt rõ ràng thằng bé nói cám ơn và xin kính tặng bài nhạc cho tất cả các thầy cô đã dạy tiếng Việt cho nó. Ngồi dưới hàng ghế  phụ huynh tôi thấy rõ nét xúc động trên gương mặt của các thầy cô, khi thấy đứa học trò sinh ra lớn lên ở Mỹ đã nói cám ơn thầy cô bằng chính tiếng Việt Nam mến yêu nó đã học, không phụ công dạy dỗ của thầy cô mấy năm qua…

Bây giờ con tôi đã hoàn tất bốn năm đại học, ngành Lịch sử, nó còn đang phân vân không biết sẽ rẽ hướng nào: Chọn nghề dạy học hay sẽ học chuyên về nghiên cứu lịch sử, tôi không muốn chi phối quyết định lựa chọn của con, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn muốn con tiếp tục cái nghiệp giáo mà mẹ nó đã nửa chừng buông bỏ… vì trong tâm trí của tôi lúc nào cũng ghi nhớ hình ảnh ngây thơ chơn chất thật thà của các em học sinh Lớp 4 miền biển của tôi năm xưa…

“Các em, nhìn lên bảng

có thấy lòng ta không?

Lòng ta bay tản mạn

Như bụi phấn hương nồng”

(trích bài thơ Như bụi phấn hương nồng của Nguyễn Đăng Hà SPSG/K10)

Ngọc Ánh SPSG 12

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: