Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng CSVN lần thứ 14 (Đại Hội 14) khai mạc sáng ngày 20 Tháng Giêng tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia ở Hà Nội. Có 1,586 đại biểu, đại diện cho hơn 5.6 triệu đảng viên trên cả nước. Về hình thức, đây là kỳ đại hội định kỳ theo điều lệ Đảng. Nhưng về thực chất, Đại Hội 14 diễn ra trong bối cảnh đặc biệt nhạy cảm, sau một nhiệm kỳ 13 đầy những thanh trừng, rạn nứt và khủng hoảng niềm tin trong nội bộ CSVN.
Những quyết định được đưa ra tại đại hội lần này có ảnh hưởng đến sự tồn tại của chế độ và đất nước trong những năm tới, giữa bối cảnh quốc tế và trong nước đầy biến động.
Tổng Bí Thư Tô Lâm chủ tọa đại hội, Chủ Tịch Nước Lương Cường, Thủ Tướng Phạm Minh Chính, Chủ Tịch Quốc Hội Trần Thanh Mẫn, Thường Trực Ban Bí Thư Trần Cẩm Tú và nhiều ủy viên Bộ Chính Trị khóa 13 tham gia chủ trì.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhất của đại hội là bầu ra ban chấp hành Trung Ương khóa 14. Sau đó, ban chấp hành này sẽ bầu ra Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư và tổng bí thư cho nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Trước khi Đại Hội 14 diễn ra, từ hơn hai tháng qua, truyền thông quốc tế cũng như nhiều đồn đoán xuất hiện trên cộng đồng mạng cho hay ông Tô Lâm sẽ tiếp tục tái đắc cử chức vụ tổng bí thư, và nhiều khả năng kiêm luôn vai trò chủ tịch nước. Nếu điều này thực sự diễn ra thì đây chính là sự thay đổi mang tính lịch sử của CSVN, phá vỡ mô hình truyền thống cân bằng quyền lực giữa các nhánh Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ và Quốc Hội.
Nhìn lại nhiệm kỳ 13 của CSVN, có thể thấy đây là một nhiệm kỳ khủng hoảng toàn diện. Đại dịch COVID-19 khiến Việt Nam khủng hoảng kinh tế, y tế nghiêm trọng cũng như phơi bày sự tha hóa nghiêm trọng của loạt cán bộ cộng sản. Các chiến dịch chống tham nhũng được đẩy lên cao trào chưa từng có, kéo theo quá trình thanh lọc nội bộ gay gắt và tái cấu trúc quyền lực, đặc biệt là sắp xếp lại quyền lực ở thượng tầng.
Ngoài Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng qua đời vì sức khỏe, chưa từng có trong tiền lệ lịch sử CSVN khi mà một nhiệm kỳ có đến hai chủ tịch nước, một chủ tịch quốc hội, một thường trực Ban Bí Thư cùng hàng loạt ủy viên Bộ Chính Trị, ủy viên Trung Ương Đảng, phó thủ tướng, bộ trưởng, tướng lĩnh bị kỷ luật hoặc nhận án tù. Vụ án Việt Á, “chuyến bay giải cứu” đã phá vỡ “vùng cấm,” đốt cháy từ địa phương lên đến đỉnh nóc Trung Ương.
Hệ quả là hệ thống chính trị rơi vào khủng hoảng nhân sự nghiêm trọng, tâm lý sợ trách nhiệm-làm nhiều sai nhiều bao trùm hệ thống công quyền. Quyền lực dịch chuyển rõ rệt về tay lực lượng công an-nội chính, phá vỡ thế cân bằng truyền thống giữa Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ và Quốc Hội. Nhiều tập đoàn kinh tế dính án, nhiều văn kiện chính trị, chủ trương, chính sách cải cách của nhà cầm quyền ra đời kêu gọi đổi mới, đột phá nhưng chưa thấy thực chất, thậm chí xa rời thực tiễn.
Điểm tích cực hiếm hoi thể hiện ở nhiệm kỳ 13 là giới lãnh đạo cáo cấp của đảng CSVN vẫn giữ được thế ngoại giao “cây tre” với các cường quốc lớn trên thế giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga…
Chính những thất bại của nhiệm kỳ 13 đã khiến CSVN bước vào Đại Hội 14 trong tư thế đối diện với lằn ranh sinh tử, không được tiếp tục mắc sai lầm; tiếp tục siết chặt để ổn định nội bộ, hay là chấp nhận rủi ro để khơi thông thể chế.
Rủi ro ở đây không nằm ở chỗ đại hội chọn ai làm tổng bí thư, chủ tịch nước, hay thủ tướng mà là CSVN có thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, hạn chế vừa qua để thực hiện một cuộc cải cách phù hợp với đất nước và lợi ích của người dân hay không? Một chế độ không thể tồn tại lâu dài nếu chỉ dựa vào siết chặt kỷ luật và đàn áp. Nhiệm kỳ 13 đã chứng minh cho giới “chop bu” CSVN thấy rằng; chống tham nhũng không thể thay thế cải cách, Đại Hội 14 phải rút ra bài học này.
Đại Hội 14 còn diễn ra trong bủa vây ý những lo ngại của giới quan sát khi cho rằng, nếu ông Tô Lâm tái đắc cử tổng bí thư thì đời sống người dân Việt Nam sẽ còn khó khăn hơn. Lo ngại này không phải là không cơ sở, xuất thân từ ngành công an dù nay đã đổi cương vị nhưng trong nhận thức của người dân, ông Tô Lâm vẫn gắn liền với mô hình quyền lực công an-nội chính. Việt Nam đang ở thời ông nắm quyền, hầu hết các quy tắc hoạt động và phân xử xã hội đều gắn liền với an ninh hóa rất rõ ràng. Công ai trị không đồng nghĩa đời sống người dân sẽ an toàn hơn, công bằng hơn.
Ông Tô Lâm vừa thúc đẩy cải cách thể chế, minh bạch hệ thống nhưng đồng thời cũng dựa vào đây để tập trung quyền lực, mở chưa kịp rộng thì đã vội siết chặt, kinh tế chưa kịp thông thì đã bị nhiều chính sách ban hành vội vã gây kìm hãm. Xã hội bí bách, bất bình đẳng gia tăng, đời sống người dân gánh thêm áp lực, tiếng nói phản biện bị bóp nghẹt. Ổn định chính trị trở thành toan tính cá nhân, chưa đi cùng với lợi ích của người dân. Đây là những lý do chính người dân lo sợ tiếp tục khó khăn hơn, không thấy ánh sáng tương lai nếu ông Tô Lâm tái đắc cử.
Trong hoàn cảnh đó, một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam lại quay sang đặt kỳ vọng vào Bộ Trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang và lực lượng quân đội, với mong muốn hạ bệ ông Tô Lâm và đối trọng với lực lượng công an. Một tướng lĩnh quân đội nắm quyền tổng bí thư là một điều chưa từng có trong tiền lệ từ mấy chục năm qua của Đảng CSVN.
Sự “nghiêng” về ông Phan Văn Giang chủ yếu xuất phát từ tâm lý bị bí bức bởi công trị, an ninh hóa đời sống dân sự. Quân đội ít can dự trực tiếp vào đời sống dân sự, ít gắn với các vụ án kinh tế lớn nên tạo cảm giác đỡ gánh nặng, đỡ tham nhũng hơn. Tuy nhiên, đây là một cảm nhận chưa đúng, bởi một khi quân đội bước sâu vào chính trị, tham nhũng không mất đi mà có thể sẽ chuyển sang hình thức tồn tại tinh vi hơn.
Nhìn chung, dù chiếc ghế tổng bí thư rơi vào tay ông Tô hay ông Phan, hoặc bất kỳ cá nhân nào xuất thân từ lực lượng công an hoặc quân đội, thì Việt Nam vẫn là chế độ cộng sản cầm quyền nên rủi ro về bản chất là giống nhau. Công an dẫn tới xu hướng an ninh trị, quân đội dẫn tới quân sự hóa chính trị. Cả hai mô hình đều mang đặc trưng tư duy kỷ luật, hạn chế phản biện xã hội, không phù hợp với việc phát triển kinh tế và không khiến đời sống dân sự thoải mái hơn. Vì vậy, vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ chiếc ghế tổng bí thư không nên thuộc về lực lượng vũ trang.
Tuy nhiên, Đại Hội 14 đang cho thấy rủi ro rất lớn, vị trí lãnh đạo tối cao khả năng lớn tiếp tục lọt vào tay một nhân sự xuất thân từ lực lượng vũ trang, quyền lực có xu hướng tập trung vào một trục duy nhất, mờ nhạt dần cải cách.
Đại Hội 14 không chỉ khép lại một nhiệm kỳ đầy biến động, mà còn đặt cho CSVN những lựa chọn mang tính lịch sử lẫn sinh tử; tiếp tục đẩy mạnh siết chặt kỷ luật hay là chuyển đổi mô hình nới lỏng quản trị để khơi thông bế tắc, tạo động lực phát triển kinh tế? Câu trả lời sẽ có từ thực tiễn của đất nước Việt Nam vào những năm tới.



























