Về tập thi-nhạc-họa “Tình Ca”

Năm nay tròn 100 năm ngày sinh nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2021)
Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp

Có lẽ mọi người hay thấy hình ảnh bộ ba Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng – Ngy Cao Uyên cùng ngồi và nhìn vào tập thi-nhạc-họa “Tình Ca” kết hợp giữa ba người (xuất bản năm 1959)… Có nhiều tài liệu về Phạm Duy nhưng quả thật bài viết và hình ảnh về cuộc giao duyên thi-nhạc-họa như bài báo sau quả là một tài liệu độc đáo và lạ lùng.

Phạm Duy đã từng nói về thơ của họ Cung như sau:

“… Saigon 1958. Chính quyền ở miền Nam đã đứng vững sau mấy năm thành lập. Người dân (nhất là người dân ở thành phố) sống trong an ninh và thịnh vượng hơn là trong thời chinh chiến vừa qua. Phòng trà mọc lên khá nhiều. Thế hệ ca sĩ thứ ba ra đời sau các thế hệ ca sĩ “tiền bối” Ái Liên, Thương Huyền, Thái Thanh v.v… Tân Nhạc ở miền Nam phát triển mạnh mẽ với xu hướng nhạc tình.

Cung Trầm Tưởng, một thi sĩ trẻ vừa ở Paris về, đưa cho tôi mấy bài thơ để phổ nhạc trong đó có hai bài nói về mùa Thu và mùa Ðông Paris. So với nhạc tình thời đó, hai bài này rất mới lạ cho nên được các nữ ca sĩ trẻ đẹp như Thanh Thúy, Thu Hương, Lệ Thanh trình bày hằng đêm tại các phòng trà. Các đài radio, các nhà xuất bản, các hãng làm đĩa hát đua nhau phổ biến những bài thơ phổ nhạc này của chúng tôi. Nó trở thành những tình khúc của một thời. Thời kỳ đẹp nhất của người Việt trong thế kỷ này chăng?”

Bản thân sự kết hợp thơ-nhạc-họa đã là một bước đột phá (ngay cả trong thời đại ngày nay). Trong tập thơ-nhạc-họa này, Phạm Duy đã phổ nhạc sáu bài trên tổng số 13 bài, đó là Mùa Thu Paris, Kiếp Sau, Về Ðây, Tương Phản (PD đổi thành Bên ni bên nớ), Khoác Kín (Phạm Duy đổi là Chiều Ðông) và Chưa Bao Giờ Buồn Thế (Phạm Duy đổi thành Tiễn Em). Tất cả sáu bài đều thuộc vào những bài thơ phổ nhạc tiêu biểu cho sự gặp gỡ giữa thi ca và âm nhạc ở cung cao sáng tạo. Ngoài ra, dìu dặt trong vần thơ nét nhạc còn là những nét chấm phá ấn tượng – những nét vẻ theo phong cách tượng trưng của người bạn thân: họa sĩ Ngy Cao Uyên (được biết đến là người lập nên Hội họa sĩ trẻ đầu tiên của Việt Nam năm 1962).

Sự kết hợp có một không hai này, theo cả ba tác giả là sự đồng-sáng-tác chứ không đơn thuần dừng lại ở mức hợp tác tay ba: Cả ba phải cảm, mến… phong cách/ hơi thở/ kỹ thuật… sáng tác của nhau thì mới cùng hòa điệu cho ra tập Tình Ca.

“Tôi đã tìm được hồn nhạc ở Phạm Duy và nét vẽ ở Ngy Cao Uyên” (Cung Trầm Tưởng)

“Tôi cảm mến thơ Cung Trầm Tưởng vì qua âm điệu mình đọc được chính cảnh ngộ của mình” (Phạm Duy)

“Tôi diễn tả thơ Tình Ca bằng một vài nét tượng trưng….như thế thì mới có vẻ “thơ”” (Ngy Cao Uyên)

Mời các bạn cùng đọc lại một bài viết nhìn sâu vào hồn thơ của Cung Trầm Tưởng, cũng như tường thuật lại một hình ảnh sinh họa văn nghệ rất tự do, rất “sáng tạo” qua cuộc gặp gỡ định mệnh này, qua đó cũng là một dịp nhìn ngắm lại những chân dung “xán lạn” của ba tao nhân mặc khách, trong một khía cạnh nào đó cũng là những đại diện cho nền văn hóa nghệ thuật rực rỡ một thời: nhạc sĩ – họa sĩ – nhà thơ.

Nguyễn Trường Trung Huy

Sài Gòn, Tháng Tám/2021

Những Vì Sao Sáng

(Bài của Văn Trang, hình của Mạnh Đan – tạp chí Trẻ số 2, năm 1959)

Với óc tò mò say mê của một nhà chiêm tinh thám hiểm, tôi thường âm thầm theo dõi một hiện tượng sau xuất hiện trong vũ trụ thi ca: Có những vì sao, bỗng một đêm nào đó, hiển hiện lên sáng ngời, khiến ta phải chú ý đến, chú ý đến chưa xong xuôi thì đã vội tắt đi đột ngột đến nỗi ta tin đây là một sự vĩnh-biệt. Nhưng không, rồi một đêm không chờ không đợi, những vì-sao huyền bí kia lại hiện về sáng ngời hơn xưa. Lần này, ta không thờ ơ nữa, ta bắt đầu theo dõi cẩn thận, tâm nhớ dạ ghi phương hướng. Và ta thấy, trong thời gian xoay vần, những vì sao đó thỉnh thoảng lại hiện về, càng ngày càng sáng ngời hơn, để rồi hôm nay với ta trở thành một hiện tượng quen thuộc dù hiếm hiện.

Ở đây, tôi muốn nói riêng đến một trong những vì sao của vũ trụ thi-ca: Cung Trầm Tưởng.

Tên này thật ra chẳng xa lạ lắm với ta. Tôi đã âm thầm theo dõi Cung Trầm Tưởng từ ngót mười năm nay. Từ lúc anh bắt đầu xuất hiện bằng ánh sáng những bài thơ rừng hoang-vu. Những bài thơ này đăng rải rác trong những tạp-chí văn-nghệ mà nay tôi chỉ còn nhớ một vài tên như Mới, Phổ-Thông Trường Luật, Quan-Điểm, Đất-Đứng, Sáng-Tạo…

Để có một ý niệm liên tục về thơ Cung Trầm Tưởng – ý niệm này sẽ giúp ta hiểu rõ thêm nguồn thơ của “Tình Ca” mà tôi sắp nói đến – tôi xin trích một vài đoạn những bài thơ rừng nói trên:

Sông ơi! Bạn những cồn hoang

Chị khôn phố phủ, em ngoan bản rừng.

Tình ta lũng xóm mịt mùng,

Đìu hiu quán nhỏ, chập chùng núi cao.

(Tập Bản Thổ – Đà-Giang)

Chòm là trúc chao mình ôm xóm vạn,

Về họp làng trên bãi cát ven sông.

Những con cò, con xếu, những con nông:

Em viên bản anh rừng châu suối phủ.

Hoặc:

Hồn tôi cái đĩa thâu thanh

Tròn nguyên ý nhạc, trung thành ý ca.

Do ré mi fa sol la…

Ngẫm từng âm điệu, nghe ra chiều buồn

(Tập Bản Thổ – Chiều)

Hơi thở của Cung Trầm Tưởng rào rạt như vậy. Ý thơ Cung Trầm Tưởng đậm đà như vậy. Thế mà, bỗng một sớm một tối, vì sao Cung Trầm Tưởng lặn đi, lặn đi một thời lâu (hơn ba năm), để ta bàng hoàng ngơ ngác. Hỏi ra mới biết người thơ trẻ tuổi này đã xuất dương sang Pháp để trau dồi tri thức, sau khi đã đỗ xong Tú Tài.

Dù Cung Trầm Tưởng vắng mặt lâu, tôi vẫn đôi khi nhớ đến anh qua những vần thơ trên ngâm đi ngâm lại. Rồi cuối 1956, anh trở về Việt-Nam. Ngay sau đó, tôi được nghe Tao Đàn trình diễn thơ anh.

Nhạc thơ rào rạt ấy còn ngâm vang đến hôm nay, tôi cầm chắc trong tay tập Tình Ca mà Cung Trầm Tưởng vừa cho xuất bản, trong đó có sáu bài Phạm Duy phổ nhạc và bức minh họa của Ngy Cao Uyên.

Đọc một đêm xong “Tình Ca”, tôi sung sướng nghĩ: những vì sao dù có xoay vần đến đâu thì rồi thế nào cũng lại trở về bầu trời chúng ta, như “máu trở về tim”.

Cung Trầm Tưởng đi Pháp học lâu năm – Cung Trầm Tưởng đã trở về Việt Nam, lăn lộn với cuộc sống. Từng ấy năm đầy đọng biến cố có làm thay đổi tâm trạng thơ Cung Trầm Tưởng không?

Đó là câu hỏi duy nhất tôi tự đặt ra trước khi đọc “Tình Ca”. Đọc xong, tôi có nhận xét rõ rệt như sau:

Cung Trầm Tưởng vẫn là người của thương yêu tha-thiết. Ngày xưa yêu rừng, yêu núi, yêu sông. Ngày nay yêu tình, yêu đàn bà, yêu cuộc đời. Ngày xưa cũng như ngày nay, Cung Trầm Tưởng không bao giờ buông ngừng hơi thở rào rạt cố hữu của anh. Quá khứ đi đến hiện tại không trên đường rầy của ly dị. Quá khứ đi đến hiện tại bằng một chuyến tàu trầm trầm, nặng đầy tình cảm, tuần tự từ ga đầu đến ga chót, qua những rừng, núi, sông đến nguồn băng, phố tuyết, thị thành, đến tình yêu, đàn bà, đến cuộc đời. Ở mỗi chốn dừng chân, anh đều để lại ngần ấy thiết tha.

Chỉ có một điều khác, nó nằm trong địa hạt diễn tả. Cung Trầm Tưởng bộc phát ra ngoài bao nhiêu thì ngày nay lại trầm thu vào trong, nghe chừng mênh mang hơn.

Ta nghe đây người thơ ca ngợi cuộc đời:

Nhạc đời âm ti

Hờn rên chín suối?

Không không gió lộng

Thổi rộng thiên đàng…

Ta còn yêu ta…

(Tập Tình Ca – Tình Ca)

Người thơ thấy thiên đàng chẳng ở đâu xa, ở ngay chính cuộc đời này, nếu có thương yêu.

Ta có thể phân “Tình Ca” ra làm hai đoạn: đoạn ly hương trong đó Cung Trầm Tưởng ca ngợi tình yêu vạn vật, đàn bà với lòng tha thiết cố hữu của anh, và đoạn hồi hương trong đó Cung Trầm Tưởng đã tỏ rõ ra dù có sống xa đất nước lâu năm, anh vẫn trở về như “máu trở về tim”, yêu thương thêm đậm đà.

Đoạn ly hương:

Ta nghe đây người thơ với mùa thu, nhất là với mùa thu có tình yêu, nghĩa là có chờ đợi:

Mùa thu đêm mưa,

Phố cũ hè xe,

Công-trường lá đổ

Ngóng em kiên khổ phút giờ

Mùa thu âm thầm

Bên vườn Lục Xâm

Ngồi quen ghế đá,

Không em buốt giá từ tâm

Mùa thu nơi đâu

người em mắt nâu

tóc vàng sợi nhỏ

Mong em chin đỏ trái sầu

(Tập Tình Ca – Mùa Thu Paris)

Thật sung sướng cho Michèle khi được người thơ yêu. Săn sóc giấc ngủ đến như sau thì thật là ân-cần-chu-đáo:

Lửa vĩnh-viễn khi tay người nối bấc,

tôi còn xin cầu trợ ánh trăng yên;

xin hòa mơ lá mộng kéo rừng tiên

nhập đoàn với bóng hồn tôi hộ-tống.

(Tập Tình Ca – Michèle)

Tình Ca chẳng nguyên chú trọng về tình yêu đàn bà – Cung Trầm Tưởng đối với cảnh vật cũng tỏ ra ngần ấy lưu ái thiết tha. Có điều đặc biệt là anh nhìn cảnh vật đất người với một con mắt rất Á Đông. Trời và đồi nương Provence có “Provence” đến đâu, anh vẫn rất chủ-quan:

Về đây tôi lại gặp tôi

lang thang lối cũ, trước đồi sau nương

Ngô đồng lả ngọn thuần lương,

Trời cao không đỉnh, mến thương không bờ

Cố tri khóm hạnh bây giờ,

Vẫn màu niên-cổ khoác chờ mối xưa.

Hoặc

Chân vui lối rộn khôn cùng,

Gần xa trời mở vòng cung thâu vào.

Chân phương lòng thấy nao nao,

Với muôn thương mến lên cao hôn trời

(Tập Tình Ca – Về Đây)

Cung Trầm Tưởng đã tỏ ra rất sở-trường về thể thơ lục bát. Những vần, những ý, những hình ảnh nối tiếp nhau, khó mà tách rời được, tôi đành viết trọn ra đây bài Khoác Kín:

Chiều đông tuyết lũng âm u
Bâng khuâng chiều tới tiếp thu trời buồn
Nhớ ngày tầu cũng đi luôn,
Ga thôn trơ nỗi, băng nguồn héo hon.
Phường xa nhịp sắt bon bon,
Tàu như dưới tỉnh núi còn vọng âm.
Sân ga mái giọt âm thầm:
Máu đi có nhớ hồi tâm đêm nào?
Mình tôi với tuyết non cao;
Với cồn phố tịnh buốt vào xương da;
Với mây trên nhợt ánh tà;
Với đèn xóm hạ cũng là tịch-liêu.
Tôi về bước bước đăm chiêu,
Tâm tư khoác kín, sợ chiều lạnh thêm.

(Tập Tình Ca – Khoác Kín)

Đoạn hồi hương:

Đi xa trở về, Cung Trầm Tưởng đã tỏ ra không bị “Tây-hóa”. Khi yêu cũng biết kiên chờ, độ lượng như bất cứ một người Á Đông nào khi yêu. Khi vịnh cảnh thì cũng rất cổ điển, tinh-vi như một họa sĩ thủy mạc.

Người thơ trở về đất nước, tỉnh thành, lòng rào rạt thương yêu:

Vì tâm tư còn say hương mới lạ

Tôi còn yêu nên mới hẹn trở về

Với vui vui đêm quán nhỏ cà-phê

Câu anh phiếm với lời tôi túy lúy

Hoặc:

Nay mưa gió từ chiều xa hoang dại,

Hẹn vui ngày đoàn-tụ có tôi đây.

Chút thơ yêu xin ké hội xum vầy

Ôi phố thị chiều nay sao náo nức!

Tôi còn yêu còn yêu tôi còn yêu…

(Tập Tình Ca -Tôi còn yêu còn yêu tôi còn yêu)

Người thơ trở về, mối tính nơi đất người đành lỡ dỡ, đành xin hẹn kiếp sau:

Thôi em xanh mắt bồ câu,

Vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau

(Tập Tình Ca – Kiếp Sau)

Ngoài đặc tính trữ tình ra, “Tình Ca” còn chứa những hình ảnh rất đẹp:

Những mái nhà trùng điệp,

Từng toa nối từng toa,

Chở nặng chiều dương thế

Về hoang phế đêm khuya

Những vì sao bến kiệt.

Hoặc

Mái đầu tôi không tóc,

Chiều nay là một nóc nhà thờ,

Mang linh hồn giáo-chủ,

Thân xuôi và tay ngang

Làm một cây Thánh Giá

Mang lên cắm đất những vì sao.

Những mái nhà, những vì sao

Cùng chung một thế-giới.

(Tập Tình Ca – Những mái nhà, những vì sao)

Để kết luận: Ngoài một vài khuyết điểm về ấn loát, “Tình Ca” có thể đáng là một trong những tập thơ trình bầy đẹp nhất trong vòng mười năm nay.

Thuật Lại Một Cuộc Hợp Tác

Tập “Tình Ca” trong tay, tôi đến gặp thi sĩ Cung Trầm tưởng đúng lúc anh đang sáng tác thơ. Anh ngửng đầu lên, vừa cười vừa nói hồn nhiên:

  • À, lại nhà báo!

Tôi mạnh dạn đi thẳng vào vấn-đề:

  • Trước khi viết một bài về “Tình Ca”, mong anh, Phạm Duy và Ngy Cao Uyên cho biết ý kiến về…

Tôi chưa kịp nói hết Cung Trầm Tưởng đã lanh lẹ cắt đứt:

  • Có ngay!

Tôi tiếp tục:

  • Tình Ca là tập đầu tiên ở Việt Nam, trong đó thơ, nhạc, họa đồng-hành với nhau. Anh nghĩ gì về sự hợp tác tay ba ấy?
  • Hồi ở Paris, tôi đã có ý định thực hiện sự hợp tác tay ba này. Điều khó khăn đầu đầu là tìm được một hồn nhạc và một nét vẻ cảm, mến thơ mình.
  • Anh đã tìm được hồn nhạc Phạm Duy và nét vẽ Ngy Cao Uyên?
  • Phải, hai người bạn thân này. Ngoài là nhạc sĩ và họa sĩ, còn có một tâm hồn rất thi sĩ. Tôi chẳng cần biện minh hộ, anh cứ thưởng thức tác phẩm của họ là hiểu ngay. Ngoài ra, họ cũng từng sống những phút giờ như tôi, nghĩa là từng chờ đợi ở vườn Lục-Xâm, từng tiễn đưa ở một nhà ga Ba-Lê…
  • Thế anh có để cho họ tự do khi phổ thơ hay họa thơ anh?
  • Có chứ, hoàn toàn tự do. Tôi không hề ép buộc họ trong một công thức nào hết.
  • Tôi hiểu rồi. Vì vậy Phạm Duy đôi khi chỉ giữ hồn thơ anh, còn tự do đổi lời cho hợp âm điệu.

Chúng tôi tạm ngừng để uống trà. Cung Trầm Tưởng chưa kịp đặt chén xuống thì tôi đã vội hỏi:

  • Lúc nãy, anh chỉ mới nói đến điều khó khăn đầu tiên. Vậy còn điều khó khăn nào nữa?
  • Điều khó khăn ở sau là phương diện kỹ thuật. Theo tôi, phổ thơ, họa thơ là một kỹ thuật khó khăn. Về kỹ thuật Phạm Duy, kỹ thuật Ngy Cao Uyên, tôi không hề đặt dấu hỏi. Anh nên gặp họ thì hơn.

Tôi đến gặp Phạm Duy đúng lúc anh vừa đọc xong một quyển khảo luận về nghệ thuật điện ảnh. Vẻ mặt anh còn đang thắc mắc về một điều gì xa xôi, thì tôi đã đi thẳng ngay vào vấn đề:

  • Mong anh cho biết ý kiến về sự hợp tác của anh trong Tình Ca
  • Hợp tác thì chưa đúng hẳn, đồng sáng tác thì hơn. Về phương diện thơ phổ nhạc, tôi bao giờ cũng quan niệm có cảm mến thơ thì mới phổ nhạc…
  • Nghĩa là như anh Cung Trầm Tưởng đã nói với tôi.
  • Phải. Cảm, mến thơ vì qua âm điệu, ý hồn, mình đọc được chính cảnh ngộ của mình. Tôi cảm, mến thơ Cung Trầm Tưởng bởi đã ghi lại cho tôi những kỷ niệm về Ba-Lê.

Lúc này, sau cặp mắt kính cận thị lờ mờ, mặt Phạm Duy lộ một vẻ buồn man mác. Tôi vừa nhìn tập Tình Ca vừa nói:

  • Cảm, mến xong rồi, anh tính chuyện sáng tác ra sao?

Phạm Duy trả lời nhanh nhẹn:

  • Phổ nhạc cho thơ là cả một kỹ thuật khó khăn. Tôi chỉ tóm tắt những điểm chính: Thoạt đầu tìm một thể nhạc, thích hợp và bài thơ rồi chia bài thơ thành từng đoạn. Phân tích âm điệu, tìm tòi nét nhạc; sau cùng ghép lại, sửa đổi cho sáng tác tròn trặn, nhạc và thơ song hành cùng nhau.
  • Anh có thể cho biết một vài ví dụ trong “Tình Ca” được không?
  • Chẳng hạn trong “Mùa thu Paris”, tôi cố tâm dùng thể Musette để gợi lại không khí các buổi khiêu vũ chủ nhật của sinh viên Paris. Trong “Chiều Đông” tôi lại chuyển sang thể Blue nhịp hai để diễn tả cảnh tầu đi xuống tỉnh, ga ở lại với băng nguồn tuyết núi. Theo tôi, như vậy thích hợp hơn…

Tôi phải xuống tận Biên Hòa mới gặp được họa sĩ Nguyễn Cao Uyên. Ở đó, tôi được dẫn đi xem xưởng họa của anh, lập trong một biệt thự xinh xắn.

Sau một hồi bàn luận về hội họa, chúng tôi đã chuyển sang chuyện hợp tác trong Tình Ca. Nguyễn Cao Uyên cũng như Phạm Duy đã cảm, mến thơ Cung Trầm Tưởng trước khi vẽ. Anh nói như sau:

  • Trong Tình Ca, tôi diễn tả thơ bằng một nét vẽ rất tượng trưng. Theo tôi, như thế thì mới có vẻ “thơ”
  • Anh có thể dẫn chứng bằng một ví dụ không!
  • Chẳng hạn trong “Mùa thu Paris” tôi chỉ diễn tả cảnh mùa đông vườn Lục-Xâm-Bảo bằng một pho tượng trơ trọi và dăm cành cây xơ xác, còn cảnh “ngóng em kiên khổ phút giờ” hay “không em buốt giá từ tâm”, theo tôi vẻ mặt ưu tư của một sinh viên ngồi chờ ghế đá là đủ diễn tả.
  • Có người cho các trình bày bìa “Tình Ca” của anh hơi “siêu tả chân”. Có đúng vậy không?
  • Sao lại “siêu tả chân”! Tôi chỉ muốn tượng trưng Tình Ca bằng một trái tim thơ, thơ nhạc họa bằng một người đàn bà và một cái bút lông. Có thế thôi!

Nguyễn Trường Trung Huy chép lại từ bộ sưu tập báo chí cá nhân.

*****

Trẻ là nguyệt san của Sở Thông Tin Hoa Kỳ Sài Gòn phát hành (USIS – U.S. Information Service). Ngoài Trẻ, Sở này còn phát hành các ấn bản: Thế Giới Tự Do (giới thiệu đất nước – văn hóa con người của các quốc gia trong khối tự do – trong đó có VNCH) & Hương Xa (các bài báo dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt). Và theo một số tài liệu, USIS còn là “nhà tài trợ chính” cho Sáng Tạo của Mai Thảo.

Trẻ như tôn chỉ của báo: “Trẻ không có nghĩa là nhiều hay ít tuổi… Trẻ có nghĩa là tâm hồn luôn sẵn sàng cởi mở đón nhận những ý tưởng trẻ” – phát cho SVHS nên các bài báo đưa ra các chủ đề rất “thời trang” và… trẻ. Trẻ phát hành 11 số thì ngưng do chủ bút Nguyễn Thúc Dư sang Mỹ du học.

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Ý Kiến Độc Giả
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Danh kiếm
Hai danh gia kiếm khách nổi tiếng đương thời võ lâm Châu Thổ là họ Lý và Trần. Trần gia truyền đời với thanh danh kiếm oai trấn thiên hạ,…
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: