Phân

Share:

Song Thao

Ngày đầu năm 2019 này, chàng Ủn bên Bắc Hàn ra một lệnh mới để cứu vớt nền nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn của một đất nước đã chế tạo được hỏa tiễn nguyên tử. Lệnh bắt mỗi người dân phải nộp 90 kí phân mỗi ngày. Như vậy, mỗi cỗ máy người phải hoạt động hết công suất để đạt chỉ tiêu đề ra.

Nhưng dù cỗ máy già hay trẻ, hoạt động liên tục không ngừng nghỉ, cũng không thể đạt chỉ tiêu này được. Nghe tưởng là chuyện đùa nhưng bản tin do đài truyền hình Fox loan tải ngày 29/1/2019 cho biết đây là chuyện đứng đắn. Nếu không nộp đủ chỉ tiêu thì sao? Người dân có hai lựa chọn. Thứ nhất, nộp 270 kí phân ủ hay phân súc vật. Thứ hai, nộp tiền thế vào. Đây mới là cái tổ con chuồn chuồn. Anh chàng béo tốt phương phi có mái tóc không giống ai muốn moi tiền dân!

Chàng Ủn Bắc Hàn

Chuyện các chế độ xã hội chủ nghĩa bám vào phân là chuyện chẳng có chi lạ. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đã từng ngó vào đống phân của người dân như vậy. Tôi mới được đọc một bài viết của tác giả Phạm Thế Việt viết về chuyện này. Đọc mới biết nhà nước xã nghĩa ngoài Bắc hồi đó là một nhà nước nhân đạo. Chỉ tiêu đề ra chỉ bắt mỗi gia đình nộp mười kí phân người, gọi cho lịch sự là phân Bắc, mỗi tháng. Chẳng hiểu sao lại có chuyện Bắc Nam ở đây. Chẳng lẽ phân của miền Bắc xã hội chủ nghĩa siêu việt hơn?

Tác giả Phạm Thế Việt viết như sau trong bài “Nợ Cứt”: Ngày đó hợp tác xã ra một chiến dịch thu gom phân bắc (cứt người), mỗi gia đình một tháng phải đóng đủ mười cân, nếu không đóng đủ thì bị cắt gạo. Thật là một chiến dịch có một không hai trong xã hội loài người. Vậy nên, khi chiến dịch ra đời, cái cầu tiêu trở nên vô cùng quan trọng và cấp thiết. Người người, nhà nhà mua xi măng mua gạch về xây cầu tiêu. Cầu tiêu phải làm bằng xi măng thì cứt mới không bị phân huỷ, chứ ỉa xuống đất vài ngày là bọ hung ăn hết, lấy gì mà đóng cho nhà nước. Vậy nên, cái cầu tiêu quan trọng hơn cái nhà. Chuyện ỉa đái lúc này cũng cực kỳ quan trọng, dù ai đó có bị tào tháo rượt ở đâu thì cũng phải nhanh nhanh ba chân bốn cẳng chạy thẳng về cầu tiêu nhà mình mà giải quyết chứ để mất đi một cục là mất đi lon gạo chứ chẳng chơi. Nhiều người đi làm ngoài đồng, ngày trước, khi mắc ỉa thì chạy vô bờ, vô bụi làm đại cho xong, nhưng bây giờ, làm như vậy có mà đói chết. Vậy nên, phải tìm cách, có người làm đại vào bao ni lông, có người cuộn trong lá chuối, có người cẩn thận hơn đi vào trong cái cà mèn đựng cơm để mang về cho an toàn mà đổ xuống cầu”.

Nghề hót phân truyền thống làng Cổ Nhuế

Nạn nhân đầu tiên của cái lệnh “có một không hai trong xã hội loài người” này là mấy chú chó. Cơm khoai đã không có mà ăn, nay lại bị cắt mất nguồn lương thực tưởng là không có ai tranh dành này, chết là cái chắc. Nhưng oái oăm thay, chính người chết trước chứ không phải chó. Tác giả Phạm Thế Việt lúc đó còn nhỏ. Nhà có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít. Sản xuất hết ga cũng không đạt đủ chỉ tiêu. Túng thì phải tính. Mẹ ông Việt bắt buộc phải chơi trò gian lận. “Nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, cố gắng lắm không để thất thoát cục nào, vậy mà đến tháng vẫn không đủ cân nộp, má tôi sai anh em chúng tôi đi tìm đá sỏi bỏ vào cho đủ. Khi mang lên cân người ta kiểm tra và phát hiện nhà tôi gian lận nên lập biên bản và làm kiểm điểm. Họ còn ghi rõ ràng trong biên bản gian lận như thế nào, có bao nhiêu cục cứt và bao nhiêu cục đá sỏi. Quả đúng không sai, cái đời người nông dân u tối làm sao mà lừa được mấy ông nhà nước, mấy ông tinh vi vô cùng. Kết quả là nhà tôi bị cấm không cho nhận gạo một tháng. Trong một buổi họp người ta đưa tên má tôi ra kiểm điểm trước dân về việc gian lận lấy đá sỏi trộn với cứt để nộp cho nhà nước. Họ không cho má tôi phân bua gì hết. Nhưng không đành lòng nhìn cảnh con đói, bà đứng dậy thẳng thừng, dứt khoát. Bà nói: “Việc tôi làm gian lận tôi chịu trách nhiệm trước toàn thể mọi người, nhưng các người nhìn đi thì cũng phải nhìn lại, nhìn ngược thì cũng phải nhìn xuôi, các người có nhìn vào nhà tôi không, nhà tôi có bốn người, một người lớn và ba đứa con nít, tôi thì suốt ngày đi làm ngoài hợp tác xã, có cục nào tôi đã ỉa ngoài hợp tác xã hết rồi, còn con tôi ở nhà, nó là con nít nó ăn bao nhiêu, ỉa bao nhiêu, nó ỉa ra cục nào chó lủm cục đó thì lấy đâu đủ cứt để mà nộp cho mấy ông. Vậy mà bây giờ mấy ông kiểm điểm tôi, cắt gạo thì lấy gì tôi nuôi con, lấy gì ăn để mà ỉa mà đem cứt nộp cho mấy ông”.

Chuyện chính sách nhà nước đâu phải chuyện đùa, nhà ông Việt bị cắt gạo thật! Cho tới bây giờ, gia đình ông Việt vẫn chưa nộp đủ chỉ tiêu. Trong mớ giấy tờ lưu ở kho lưu trữ quốc gia, gia đình ông vẫn mang một món nợ. Món nợ mà ông gọi là “nợ cứt”!

Tôi thấy gia đình ông Việt không oan. Cái tội làm phân giả rành rành ra đó. Chối đằng nào được. Khi cái thứ tưởng là đồ phế thải đi vào chính sách nhà nước, chuyện đâu phải chuyện đùa. Cục phân có địa vị trong nghị quyết của nhà nước mà dám làm giả thì luật pháp nào bỏ qua được!

Phân, thứ mà Mao Trạch Đông ví với trí thức, thuộc vào loại trân quý của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Vậy nên, từ trước tới nay, chúng ta hiểu câu ví von của Mao xếnh xáng là miệt thị trí thức là hiểu sai. Đó là một câu khen. Thiệt oan ức cho nhà lãnh đạo có tiếng là ở dơ.

Cổng làng Cổ Nhuế, Hà Nội

Là thứ quý nên có người đi vơ vét. Có nhu cầu là có trao đổi thương mại. Phân người trở thành một món hàng. Hàng có hàng thật hàng giả. Cái thứ mà máy móc bất lực không sản xuất được, chỉ có con người là cha đẻ, tưởng không có cách chi làm giả, vậy mà trí tuệ con người làm được hết. Lấy đá sỏi bỏ vào như gia đình ông Phạm Thế Việt làm là cách làm giả thô sơ, thiếu kỹ thuật. Kỹ thuật là dùng đất sét thuồn qua ống nứa, giã nhỏ thân chuối trộn lẫn với nghệ bôi bên ngoài rồi cho vào phân thật.

Từ ngày có chuyện giả mạo, thị trường phân náo loạn, người ta phải lập một ban “kiểm tra chất lượng”. Vẫn theo bài viết của ông Phạm Thế Việt, ban kiểm tra được đặt tại dốc Bưởi, làm việc như sau: “Trạm kiểm tra hoạt động từ mờ sáng đến trưa. Mùi uế khí từ tay các kiểm tra viên thọc thẳng vào sọt phân tìm của giả. Nhờ lành nghề và cương quyết, sau đó vài tuần, những đứa làm phân giả bị cắt giấy phép”. Những kiểm tra viên yêu nghề này là thanh niên làng Cổ Nhuế. Vậy là dùng đúng người đúng việc! Dân làng Cổ Nhuế có chuyên môn về hót phân, từ thời phong kiến. Cả làng sống bằng nghề này. Thành Hoàng của làng là một vị hót phân chính hiệu. Trên bàn thờ trong đền, người ta thờ đôi quang, chiếc đòn gánh và hai mảnh xương trâu cầm tay. Đó là những dụng cụ hót. Cả làng có chuyên môn cao. Cao đến nỗi ngày xưa, vua Lê Thánh Tông đã ban cho làng câu đối để treo ở đình làng: Khoác tấm áo bào, giang tay gánh vác Thiên Hạ / Vung hai thước kiếm, tận thu lòng dạ Thế Gian.

Oai danh như vậy trong thời phong kiến, sau cách mạng, oai danh của làng còn cao hơn nữa. Vì làng đã sản sinh được một vị Đại Tướng lẫy lừng: Đại Tướng Văn Tiến Dũng! Thanh niên làng có một tấm gương vĩ đại như vậy nên rất tự hào là con dân Cổ Nhuế: Thanh niên Cổ Nhuế ta thề / Chưa đầy hai sọt, chưa về quê hương.

Vinh quang của làng Cổ Nhuế đã mang lại cho làng sự độc quyền mà ông Phạm Thế Việt mô tả như sau: “Không biết Đại Tướng đồng hương, ngày ấy có can thiệp vào chuyện này hay không, nhưng theo quy định của Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội, dân ngoại thành không được phép tự do đi hốt cứt và lấy cứt nữa. Trước đây, ngoài những bãi cứt vô tổ chức, vô kỷ luật mà bất cứ ai cũng có thể hót, người đi lấy cứt có thể đến làm vệ sinh cho các nhà xí hai ngăn ở thành phố để thu về cho mình một số cứt kiếm được. Bây giờ người nông dân ngoại thành bị bắt buộc phải mua phân tại chợ Cổ Nhuế, một chợ từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều không có, được thành lập năm 1989”.

Vậy là tất cả của cải do lòng ruột thế gian sản xuất được đều quy về một mối: làng Cổ Nhuế của Đại Tướng Văn Tiến Dũng. Việc buôn bán được quy định rất khoa học. Phân được chia ra làm bốn…giai cấp. Hạng nhất: phân lấy từ khu Ba Đình là khu nhà của các cán bộ cao cấp nên phân cũng cao cấp. Việc này theo đúng biện chứng. Cán bộ cao cấp được ưu tiên mua thực phẩm cao cấp tại chợ Tôn Đản. Chợ cũng được chia giai cấp như sau:

Tôn Đản là chợ vua quan
Vân Hồ là chợ trung gian nịnh thần
Bắc Qua là chợ thương nhân
Vỉa hè là chợ … nhân dân anh hùng.

Ăn ngon ăn sướng nên phân cũng “nạc” hơn. Nạc là danh từ chuyên môn chỉ cục phân rắn, chất lượng cao!

Hạng nhì: phân hốt được từ khu Hoàn Kiếm, nơi có nhiều nhà hàng, khách sạn và dân buôn bán tương đối có tiền.

Hạng ba: phân lấy từ khu Hai Bà Trưng và Đống Đa, nơi đa số dân cư là người lao động, thức ăn chỉ có rau nên phân “mờ”. Lại một danh từ chuyên môn nữa. “Mờ” có nghĩa là lõng bõng!

Hạng tư: phân hốt được từ khu ngoại thành. Phân thuộc loại xanh lè vì đã thiếu ăn lại chẳng có chi bổ béo.

Mỗi người hai sọt

Còn một loại phân nữa, thứ xịn. Tôi xin để cho tác giả Phạm Thế Việt kể cho thêm phần sinh động. “Có lần tại chợ xuất hiện một sọt phân đề chữ: “Phân ngoại 100 phần trăm”. Dân chúng không hiểu tại sao có bọn dám qua mặt Hải quan, dám nhập cảnh “phân ngoại” về xài. Về sau chủ nhân sọt phân giải thích: “Phân lấy từ bể phốt (fosse septique) của các sứ quán nước ngoài thì không phải là phân ngoại thì còn là gì? Đây là những điều tai nghe mắt thấy, tôi ghi lại gửi anh để có dịp kể lại cho bà con xa nước nghe chơi. Cho biết quê hương ta có những thứ mà người ta hoàn toàn không có. Tôi bảo đảm đây là sự thật “chăm phần chăm”.

Hà Nội năm xưa là thủ đô thanh lịch nhất nước. Đó là mặt tiền. Mặt hậu thì nhà nào cũng giống nhau. Nhà nhà có phòng vệ sinh thùng. Người ta chỉ đặt cái thùng dưới một bệ ngồi. Mỗi ngày có phu đổ thùng đi thay thùng. Những của cải trong thùng là thứ được đưa ra chợ phân bán. Theo nhà thơ Bảo Sinh thì tới khoảng năm 1970, Hà Nội mới có hố xí hai ngăn. Đây là một phát minh vĩ đại khiến dân thủ đô thấy như được sống trong cõi thần tiên. Thay vì đổi thùng mỗi ngày, vài tháng mới phải đổi một lần. Chiếc hố xí hai ngăn lập tức được coi như một thứ có giá trị hơn căn nhà ngói! Chẳng tham nhà ngói năm gian / Chỉ tham nhà chàng: hố xí hai ngăn!

Kiến thức của tôi về nhà xí rất khiêm nhường. Hố xí hai ngăn và hố xí tự hoại giống nhau hay khác nhau, tôi mù tịt. Chỉ biết hố xí hai ngăn được ca tụng như chuyện đổi đời thì hố xí tự hoại cũng huy hoàng không kém. Tác giả Trần Xuân kể về chuyện một ngôi làng lần đầu tiên xây được nhà vệ sinh có hố xí tự hoại, nghe rất phấn khởi. Ông Chủ Tịch Xã kiêm Bí thư, chắc cũng có máu văn nghệ, cho kẻ thơ trên tường để dân xã chấp hành cho đúng. Bên nhà xí nam, ông cho kẻ bốn câu thơ bằng sơn đỏ rất rõ ràng:

Đi xong nước dội một gầu

Giấy chùi bỏ xuống ngăn sau gọn gàng

Cấm viết vẽ bậy lên tường

Vệ sinh công cộng ta thường chăm lo

Chỉ hai tuần sau, có kẻ văn hay chữ tốt đã thêm thắt hai câu sau bằng than:

Nếu ai trót dại bãi to

Thì vui lòng nhớ dội cho hai gầu!

Thường vách tường nhà vệ sinh là diễn đàn cho những văn tài thích phát biểu ý kiến ý cò. Bên phía nhà vệ sinh nữ, một quý bà (hay quý cô?) đã thể hiện văn tài bằng hai câu:

Đi cho đúng lỗ mới tài

Nếu ấy ra ngoài kỹ thuật còn non.

Cả xã chỉ có hai hố vệ sinh nên tình trạng ùn tắc xảy ra thường xuyên. Trên cánh cửa, có người tốt bụng đã nhắc nhở:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Đứa ngồi trong ấy phải thương đứa ngoài.

Tôi phải thú thật là khi viết về đề tại nhạy cảm này, tôi rất ngại. Chuyện nặng mùi là chuyện chẳng nên khuấy lên cho mọi người phải bịt mũi. Nhưng khi viết mới thấy chuyện đời thật huyền diệu. Tôi đã khám phá ra là chuyện thiếu văn vẻ như chuyện tôi đang đề cập tới cũng rổn rảng  văn thơ. Hóa ra thơ có thể bắt nguồn từ những nơi bất ngờ nhất!

05/2019Website: www.songthao.com

Share:

Ý kiến độc giả
Quảng Cáo

Bài Mới

Quảng Cáo
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Facebook
Twitter
Telegram
WhatsApp
LinkedIn
Email
Kênh Saigon Nhỏ: