Đánh mất quê hương

Share:
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp

PHẦN l

Con người chúng ta không có quyền chọn lựa để được sinh ra đời. Hơn thế nữa, được chọn lựa để sinh ra là dân tộc này chứ không phải là dân tộc khác. Bởi lẽ nếu chúng ta được quyền chọn lựa, không biết được bao nhiêu phần trăm dân Việt Nam thực sự vẫn muốn chọn cái số phận của mình?

Nhiều lúc tôi nhớ về cái tuổi thơ của tôi vào cái thời trước khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Nơi gia đình tôi sống lúc ấy là một thị trấn nhỏ miền Trung, thuộc vùng Quốc gia, nhưng vẫn bị cộng sản quấy nhiễu luôn. Ngôi nhà của gia đình tôi nằm ngay phía trước Tòa Hành Chánh Quận Lỵ, mục tiêu để cộng sản thỉnh thoảng nã pháo. Gặp tay chỉ điểm tồi, cung cấp tin tức sai, họ bắn lệch một chút thì xem như cả xóm tôi được lên thiên đường sớm.

Hầu hết mọi nhà trong thị trấn đều có cái “hầm cát”. Các bạn thế hệ sau này chắc không hiểu nổi ý nghĩa của từ này. “Hầm cát” là một loại công sự để tránh mảnh bom, được dựng lên từ những cây trụ sắt xây hàng rào và bao chứa cát với chiều dài độ 7-8 tấc, chiều ngang độ 3-4 tấc. Khi mảnh bom văng vào, cát trong bao sẽ làm giảm tốc độ của mảnh bom, giữ nó lại, và người ẩn náu bên trong hầm không bị thương. Điều lạ lùng là cái công sự này được xây bên trong nhà, vì khi pháo kích thì họ thường nã bất kể ngày hay đêm. Tiện lợi hơn hết là xây ngay trong căn phòng chính của gia đình. Đôi khi nửa đêm nghe pháo kích, vừa lăn xuống giường thì bò được ngay vào hầm cát!

Hầm cát nhà tôi cao độ hơn một mét, chiều rộng một mét rưỡi, chiều dài hơn hai mét. Một bên là tường, ba mặt còn lại là những bao cát chồng lên nhau thành ba mặt như ba bức tường còn lại của căn hầm, với những thanh sắt chen ở giữa, để giúp giữ vững cái công trình xây dựng kỳ quặc mà chỉ trong thời chiến tranh con người ta mới có đủ trí tưởng tượng để làm được. Lớn lên cùng với nó cho nên chúng tôi cũng không mấy hãi hùng với cảnh một cái lô cốt ngay trong phòng ngủ của ba mẹ. Đôi lúc tôi và mấy đứa em còn vào trong đó chơi đồ hàng.

Mỗi sáng trước khi đi chợ, mẹ dặn đi dặn lại hễ nghe tiếng “đề pa” (tiếng vọng của canon khi người ta bắn) thì mấy chị em phải nhanh chân dắt nhau chạy vô trốn trong hầm cát. Tôi lớn nhất, mẹ dặn phải có nhiệm vụ coi ngó, chắc chắn là đủ hết ba đứa em vào trước rồi mình mới vào sau cùng. Một lần mẹ đang ở ngoài chợ thì có một trận pháo kích như vậy. Tim tôi như thắt lại không biết mẹ làm sao tránh bom. Mấy chị em cũng niệm Phật cầu cho ba mẹ được bình an, đứa này ráng gào to hơn đứa kia, thật ra là để trấn át nỗi kinh hãi đang dâng cao. Tàn cuộc pháo kích hôm đó, hôm sau đi học tôi nghe mấy đứa bạn kháo nhau câu chuyện ba của nhỏ bạn trong lớp, bị sức ép của trái pháo, văng lên trên trời 2-3 mét rồi mới rớt xuống chết tươi, trước mặt thiên hạ đang đông cứng người vì kinh sợ.

Chị em chúng tôi được ba may cho mỗi đứa cái túi hai ngăn; túi của đứa nào nấy nhớ, và cất vào chỗ tiện lợi, dễ thấy nhất trong nhà, khi chạy giặc thì mỗi người phải mang túi của mình. Những chiếc túi này có dây đeo ngang qua vai, trong đó ba cẩn thận xếp vào mấy gói đồ ăn khô, gạo rang, kẹo chanh. Quan trọng nhất là mảnh giấy ép plastic để không bị thấm nước, trên đó ghi tên tuổi từng đứa, tên cha mẹ và địa chỉ nhà, lỡ khi loạn lạc mất nhau vẫn còn cơ hội để tìm lại gia đình. Em út của tôi lúc đó nói còn chưa sõi…

Mùa hè đỏ lửa năm 72, chạy đi rồi trở về…, một phen kinh sợ nhưng rồi trật tự và niềm tin quay lại với mọi người. Cho đến ba năm sau, năm 75…

Ký ức đọng lại một buổi chiều Vạn Giã, Cam Ranh với mây đen u ám, bầu không khí sũng nước và nặng nề báo hiệu sắp mưa. Mẹ vừa cho chúng tôi ăn qua quýt bữa tối cho xong, thu gọn lại hành lý, chờ đến tối thì người chủ nhà sẽ chèo thuyền đưa chúng tôi ra khơi, nơi có chiếc thuyền cứu trợ của Tân Tây Lan đang chờ, đưa chúng tôi chạy tiếp về hướng Nam. Suốt gần hai tháng nay, chúng tôi chạy triền miên như thế, cứ nhắm về hướng Nam mà chạy, với hy vọng nếu họ có chiếm dần thì mình cũng vẫn thuộc về miền Nam. Điều lạ lùng là chẳng ai chạy theo chiều ngược lại, để được “giải phóng”!

Chiều hôm trước, chúng tôi nghỉ chân ở một ngôi chùa không xa Quốc lộ 1. Tình hình ngoài phố vô cùng hỗn độn. Kho súng, kho gạo đã bị phá tung, chính quyền không còn nữa, thiên hạ mạnh ai nấy nhào vô hôi của. Những thanh niên mới lớn hăng tiết vịt, chạy vào kho súng kiếm mỗi người một khẩu bắn loạn xạ. Bát nháo và hoảng loạn khắp nơi. Không biết có linh tính hay sao, mẹ lại đưa chúng tôi ra khỏi ngôi chùa. Một người nào đó mẹ gặp trên đường đã nói đến những chiếc thuyền lớn đang đậu ngoài khơi chờ dân di cư để mang họ đi xa hơn về phía Nam. Chúng tôi rời chùa lúc chiều thì tối hôm đó ngôi chùa bị trúng pháo và bốc cháy. Nhiều người chết và bị thương…

Mỏi mệt, và vì không uống đủ nước nên người tôi khô rốc như sắp đổ bệnh, chẳng muốn ăn gì. Tôi nghĩ đến ba tôi. Gia đình đã lạc mất ba từ lúc rời Nha Trang, và ứa nước mắt không biết bây giờ ba ra sao. Tôi nhìn mấy đứa em ở tuổi chơi đùa mà giờ này đã khôn ngoan đến độ không dám nói một tiếng lớn, gây một tiếng động, vì sợ làm cho mẹ rối rắm thêm. Tôi nghĩ đến thầy cô và bạn bè, giờ tan tác mỗi người một hướng, chẳng biết ai còn ai mất. Tôi nghĩ đến những đứa trẻ bằng tuổi tôi ở một đất nước khác, giờ đây chắc hẳn ở trong ngôi nhà ấm cúng học bài, và sáng mai, chúng đến trường một cách hết sức bình thường, hoàn toàn không nhận ra rằng chúng đang hạnh phúc biết bao! Và tại sao tôi và các em tôi lại phải ở đây, trong cái ngôi nhà xa lạ, leo lét ánh đèn dầu ở một xóm chài heo hút? Tôi nghĩ đến sự bất công mà những đứa bé như tôi phải chịu đựng trong cái đất nước chiến tranh ly loạn này…

Nhưng cái buổi chiều hôm u ám đó chỉ mới là cái tiền đề cho hàng chục năm u ám và lận đận tiếp theo của gia đình tôi. Bởi vì dân miền Nam chúng tôi đã được “giải phóng”!

PHẦN ll

Ký ức tôi đôi khi quay về một buổi chiều ở đảo Phú Quốc. Đó là một buổi chiều đầu tháng Tư năm 1975. Nói về ngày đó thì phải đi ngược lại mấy tuần trước, một ngày cuối tháng Ba, khi ba tôi phải ở lại căn nhà mướn ở Nha Trang để coi ngó đồ đạc gia đình mang vào từ quê, dự định sẽ di tản sau, trong khi một số người thân, mẹ và mấy nhóc chúng tôi tìm cách hướng xa hơn về phía Nam. Tuy nhiên, chúng tôi đã lạc nhau từ đó.

Tìm được một mối liên lạc đưa người tản cư ra những chiếc tàu lớn đang đậu ngoài khơi, chúng tôi đành phải đi trước. Khi chiếc thuyền nhỏ của người đánh cá đưa gia đình chúng tôi ra khơi thì đã có những người cứu nạn chờ sẵn trên các ca nô. Chỉ có mấy chiếc ca nô này mới có thể áp sát được vào chiếc tàu thủy lớn. Đêm tối nhưng ánh sáng từ những ngọn đèn trên boong tàu có thể soi đến một vùng quanh nó. Từ chiếc ca nô, chúng tôi leo lên những chiếc thang dây đang được thả xuống. Người lớn dặn chúng tôi phải ôm chặt vào cổ họ khi được cõng lên thang vì cả hai tay họ đều bận. Không cần dặn, chúng tôi cũng ôm thật chặt: trước đó mấy phút, một bà cụ được người con trai của bà cõng lên thang dây đã rớt xuống nước vừa lúc chiếc ca nô dập dềnh rời xa thành tàu. Những người xung quanh chỉ có thể nghe một tiếng bõm. Bà đã mất tăm trong làn nước tối đen. Người thân của bà kêu khóc não lòng: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”. Xung quanh, trong cơn hỗn loạn, ai cũng lo lấy thân mình, không ai nghĩ đến việc kêu cứu những người trên con tàu lớn. Tất cả xảy ra trước mắt chúng tôi như một đoạn phim kinh hoàng được chiếu rất nhanh.

Lên đến boong, đếm lại, chúng tôi mừng vì mọi người đã đủ cả. Nhưng con bé em út bỗng khóc òa. Nó hỏi “Ba đâu? Ba đâu?”, trong khi nó đã biết ba không có mặt với gia đình cả tuần nay. Vốn mê tín và đang rối bời, mẹ tôi nghĩ đến một điềm gở…

Những người di cư ai nấy tìm chỗ cho mình trong khoang thứ hai và thứ ba, kể từ boong tàu, nhưng ở đó được một đêm thì cảm thấy rất ngột ngạt. Mẹ tôi đi lên xem xét tầng trên cùng. Bà tìm được một góc dưới chân một cầu thang trên boong tàu và kéo cả nhà lên trú ẩn ở nơi đó. Không phải lúc nào cũng có bóng mát ở góc đó, nhưng không khí thì thoáng đãng. Người lớn dùng khăn lớn và mền để làm thành một cái lều nhỏ che nắng. Được nửa ngày như thế thì chúng tôi bắt đầu đói và không đủ nước uống. Chiếc tàu lớn này của New Zealand, một trong những chiếc tàu tình nguyện làm việc nhân đạo cứu người tản cư từ miền Trung vào Nam. Họ có nước uống trên tàu, nhưng dĩ nhiên không đủ cho vài ngàn người nhiều hơn dự định. Để tránh tranh giành, họ kêu gọi mọi người sắp hàng để nhận nước và đồ ăn khô; nhận xong họ đóng mộc lên tay người nhận để làm dấu. Nhiều người nhận xong, tìm cách chùi dấu mực, rồi quay lại để nhận nữa. Biết sao, tham lam và sinh tồn mà!

Bọn nhỏ chúng tôi chỉ đủ nước cầm chừng do người lớn nhường cho, và có lẽ biết thân, hay không còn đủ sức, chúng tôi nằm xếp một chỗ. Mẹ tôi tháo vát, tìm cách nấu cơm, và nấu được một nồi cơm nhỏ. Gạo mua được với giá rất đắt từ gia đình hai người “hàng xóm” nằm cạnh chúng tôi. Không biết ở đâu người lớn tìm được một ít muối và chúng tôi được cho mỗi đứa một vắt cơm với muối hột. Từ ngày thứ hai, trên tàu bắt đầu tràn lan dịch đau mắt đỏ. Ai đó đã mắc phải, và điều kiện thiếu vệ sinh trên tàu làm phần lớn chúng tôi bị vướng nạn này. Sáng dậy, mẹ tôi phải hòa muối vào nước ấm, rửa mắt cho từng đứa, chúng tôi mới “mở mắt” ra nổi. Cuối ngày thứ ba, chúng tôi đã ở ngoài khơi gần cảng Sài Gòn, nhưng không được phép lên bờ vì tình hình đang lộn xộn. Sau đó người ta quyết định đưa chúng tôi ra thẳng đảo Phú Quốc.

Phú Quốc ngày đó rất thưa dân, không đủ chỗ chứa chúng tôi trong thị xã. Người ta đưa chúng tôi qua một vùng đất vô cùng khô rốc và quạnh hiu, ở tạm trong các lán giữa rừng trước đây dành cho tù nhân. Mỗi gia đình được chia một hay hai sàn gỗ trong lán. Mỗi lán có hai hàng sàn gỗ như thế ở hai bên, mỗi bên có độ 10 sàn gỗ. Lán có hai lối vào từ hai đầu, nhưng ai cũng có thể vào ra tự nhiên vì không có cửa nẻo gì cả. Như vậy những người tù ở đây đã có được một sự tự do ở một mức độ giới hạn nào đó. Nói cho cùng, rất khó để tù nhân trốn thoát vì không có làng mạc gần đây, và thị xã thì cách nơi này ít nhất 15 cây số.

Sàn gỗ cao đến khoảng rốn người lớn, trên đó có thể ngủ được hai người lớn, hay bốn năm đứa nhóc nếu nằm ngang. Mẹ và bốn chị em chúng tôi được chia một sàn như thế. Một buổi trưa ngủ không được, tôi trở mình quay mặt vào bức tường gỗ và nhận ra có những dòng chữ nhỏ li ti rất đẹp, đúng ra là những công thức toán học, tôi đoán thế vì nó trông giống với những công thức trong quyển sách toán lớp 11, 12 của người anh họ mà tôi thấy được trong những lần tò mò mở ra xem. Lần đầu tiên tôi thấy được một khía cạnh khác của những người tù. Họ không hẳn chỉ là những người gian ác, đầy tội lỗi như tôi từng được nghe…

Nhỏ em út lại khóc: “Ba đâu? Ba đâu rồi?”. Thiệt tình! Nó không hiểu mấy lời nó kêu khóc làm cho người khác quặn ruột thế nào. Một lần nữa sự mê tín lại khiến mẹ tôi lo lắng miên man. Ông nội tôi viết lên một bảng yết thị: “Cha mẹ, và vợ con… (tên tuổi, quê quán) đã đến được nơi đây…, tìm con trai là (tên tuổi, quê quán). Nếu con có thấy được tin này thì hãy tìm mọi người ở trại số… Nếu ai thấy được dòng này và có thể nhắn tin đến con trai tôi, gia đình chúng tôi vô vàn biết ơn”. Buổi chiều ông nội đi dán yết thị, dẫn tôi đi theo. Nhìn mấy cái bảng chằng chịt những tờ giấy đủ màu, đủ kiểu chữ, được gắn phong phanh, và chúng bay phần phật trong gió, tôi đã nghĩ, nếu ai tìm được thân nhân từ những tờ giấy này ắt hẳn là chuyện nhiệm màu.

Nhưng chuyện nhiệm màu đã xảy ra một buổi chiều cách đó mấy hôm. Khi chúng tôi quây quần ăn bữa tối thì nghe một giọng nói quen thuộc, cùng lúc một bàn tay đặt lên đầu vuốt tóc nhỏ em út: “Cha! Mẹ! Cả nhà ơi!”. Ôi ba tôi, bằng xương bằng thịt đứng trước mặt chúng tôi. Cả nhà ôm nhau khóc, nhỏ những giọt nước mắt vui mừng.

Mấy hôm sau, một buổi chiều đầu tháng Tư, buổi chiều đọng lại trong ký ức, tôi vẫn còn nhớ chúng tôi chơi quanh quẩn gần đó trong lúc mẹ và mấy người lớn đang vo gạo, giặt giũ bên cái giếng nước chung đầu trại (một điểm lạ là bị vây bọc bởi biển khơi nhưng nước ở đảo rất trong và ngọt). Bất ngờ có mấy người lớn truyền nhau cái tin: chẳng bao lâu nữa người ta sẽ tụ họp mọi người lại để đưa tản cư qua Thái Lan, vì với tình hình này miền Nam cũng có thể mất luôn vào tay cộng sản. Những người lớn nói với nhau tin đó với một vẻ lo lắng, ái ngại tột cùng. Có người bắt đầu mếu máo: “Ruộng nương mồ mả ông bà mình còn cả ngoài quê (miền Trung), giờ người ta đưa mình qua bên Thái Lan để làm gì?”; có người nói: “Chắc phải tìm cách trốn trại, tìm đường về Sài Gòn rồi từ từ tìm đường về quê”. Rồi họ ôm nhau khóc.

Thế là mấy hôm sau, cũng với tài tháo vát của mẹ tôi, chúng tôi đã là một trong những gia đình đầu tiên trốn trại, dắt díu về Sài Gòn, sống ở đó ba tuần trước khi Sài Gòn thất thủ. Một số người không có phương tiện trốn đã ở yên lại trại và sau đó dù muốn hay không họ cũng được đưa qua Thái Lan vào những ngày cuối cùng của tháng Tư năm đó. Phần gia đình tôi ở lại Sài Gòn khoảng một tháng thì bồng bế về quê cũ, nghĩ là sẽ được gắn bó với mồ mả ông bà, với nơi chôn nhau cắt rốn. Sự thật thì chúng tôi đã được nếm trải cuộc sống ở “thiên đường” nhiều năm trước khi dồn hết của cải có được và tận dụng mọi giúp đỡ của những người bà con tốt bụng để rồi phải từ bỏ tất cả, từ giã quê hương một lần nữa, lao mình vào những cuộc phiêu lưu đầy bất trắc, hiểm nghèo, gian nan trên biển khơi.

Và ngày đó là một trong những ngày đầu tiên của cuộc di cư triền miên suốt nửa thế kỷ của dân Việt…

Share:

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Share on telegram
Share on whatsapp
Quảng Cáo

Có thể bạn chưa đọc

Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Quảng Cáo
Share trang này:
Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on telegram
Telegram
Share on whatsapp
WhatsApp
Share on linkedin
LinkedIn
Share on email
Email
Kênh Saigon Nhỏ: